Tài liệu tham khảo:
Trung y nhận thức như thế nào đối với bệnh hen phế quản?
Trong y học cổ truyền, “hen suyễn” (哮喘) được hiểu theo nghĩa rộng, chỉ chung hiện tượng thở gấp, khó thở. Các y thư qua các thời đại đều có luận述 và ghi chép về bệnh này rất phong phú. Trong sách Nội Kinh có nhắc đến các thuật ngữ như “thở rít” (喘鸣), “thở gấp” (喘喝); đến thời Hán, Trương Trọng Cảnh trong Kim Quỹ Yếu Lược gọi là “thượng khí” (上气), có câu “ho mà thượng khí, trong họng phát ra tiếng như gà nước”. Về sau, Chu Đan Khê đời Nguyên là người đầu tiên đặt tên “hen suyễn” trong sách Chứng Nhân Mạch Trị. Từ đó, các danh y hậu thế dần phân biệt “hen” và “suyễn” thành hai chứng. Trong sách Y Học Chính Truyền của Dư Đồn đời Minh có nói: “Suyễn là nói về khí, hen là nói về âm thanh.” Nghĩa là nếu thấy thở gấp, há miệng, nhấc vai thì là chứng suyễn; còn khi hô hấp có âm thanh phát ra nơi cổ họng thì là chứng hen. Hen tất kèm suyễn, còn suyễn chưa chắc có hen. Cách phân biệt này có giá trị nhất định trong biện chứng luận trị, nhưng trên lâm sàng hen và suyễn thường khó phân biệt rõ ràng, ngay cả ở cùng một bệnh nhân cũng có thể khi nhẹ biểu hiện như suyễn, khi nặng phát tác thành hen.
Cơ chế bệnh sinh chính của hen suyễn là có bệnh tích tiềm ẩn bên trong, khi gặp phải ngoại tà hoặc các yếu tố khác sẽ bị kích phát. Trong Chứng Nhân Mạch Trị, Chu Đan Khê viết: “Nguyên nhân của bệnh hen là đàm ẩm lưu ẩn, tích tụ thành ổ, tiềm phục bên trong. Gặp xúc động thất tình, tổn thương do ăn uống, hoặc ngoại cảm phong hàn theo mùa phong tà xâm nhập biểu, thì chứng hen suyễn sẽ phát tác.” Các nguyên nhân dẫn đến bệnh tích tiềm phục thường bao gồm: tà hàn phạm phế gây đàm ẩm ứ trệ ở khí đạo; ăn uống không điều độ, nhiều chua ngọt, béo ngậy sinh đàm hóa nhiệt, xung lên phạm phế; hoặc tỳ thận dương hư, khí không hóa tân, đàm trọc nghẽn phế v.v… Nhưng để phát sinh cơn hen thì ắt phải có yếu tố kích phát, như phong hàn, ăn uống, cảm xúc, lao lực v.v…, khiến đàm bị dẫn động, dẫn đến đàm khí giao kết, đàm đạo khí thăng, khí bị đàm cản, kết hợp thành khối, gây bế tắc khí đạo, khiến khí quản hẹp lại, phế khí thăng giáng bất lợi, dẫn đến khó thở, thở dốc; đồng thời sự ra vào của khí lại kích động đàm tích, tạo ra âm thanh khò khè trong cổ họng. Lý Dụng Túy đời Thanh trong Chứng Trị Hội Bổ chỉ rõ: “Hen là chứng suyễn lâu ngày mà thường phát ra tiếng, bởi vì bên trong có khí uất bế, bên ngoài cảm phải tà khí trái thời, hoành cách bị đàm dính đặc bít lại, ba yếu tố này kết hợp làm bế tắc khí đạo, giao tranh có âm thanh, phát thành bệnh hen.” Như vậy đã khái quát ba mấu chốt gây phát cơn hen: khí uất tắc, cảm tà trái thời, đàm dính đặc.
Các danh y qua các đời đều cho rằng, sự biến hóa bệnh lý của chứng hen chủ yếu liên quan đến phế, có liên đới đến tỳ và thận, về sau có thể ảnh hưởng đến tâm. Do đó, bệnh thường khởi ở phế, chủ yếu do tà thực, bệnh lâu ngày liên lụy đến thận, làm chính khí hư tổn. Vì bệnh dễ tái phát, diễn biến kéo dài, lâm sàng thường xuất hiện tình trạng cả ba tạng phế, tỳ, thận cùng hư, người bệnh dễ bị các yếu tố kích phát làm động tà ẩn, đàm khí giao kết, bốc nghẽn lên phế, gây ra hiện tượng vừa có tà thực vừa chính hư khi phát cơn hen.
Nguyên tắc điều trị: “Suyễn thực thì trừ tà, suyễn hư thì bổ chính; hen hàn thì nên ôn hóa hoặc tuyên tán, hen nhiệt thì nên trừ đàm túc phế.” Đó là đại pháp trị phần ngọn, nhưng không thể ngăn gốc bệnh. Người mắc hen suyễn thường không thuần túy là hư hay thực, hàn hay nhiệt, mà phần lớn biểu hiện bản hư tiêu thực, hư thực lẫn lộn. Vì vậy, phân biệt chính tà hư thực, phân định tiêu bản trước sau là then chốt trong điều trị hen. Chu Đan Khê trong Đan Khê Tâm Pháp chủ trương: “Mọi chứng suyễn lâu ngày, khi chưa phát thì nên chủ về phù chính khí, khi đã phát thì chủ về công tà khí.” Qua đó đã chỉ ra nguyên tắc trị liệu cho đời sau. Lâm sàng thường nên trừ tà trước rồi mới phù chính, nhưng không được chỉ lo phần ngọn mà bỏ phần gốc, hoặc chỉ phù chính mà không trị tà, bởi bệnh này phần lớn bản hư tiêu thực, nên điều trị phải chú ý cả gốc lẫn ngọn. Về việc trừ tà hay phù chính nhiều hay ít thì cần tùy từng người mà điều chỉnh. Người trẻ thường thiên về thực nhiệt, lấy chứng thuộc phế làm chính; người trung lão niên thường thiên về hư suyễn, thường gặp chứng trên thực dưới hư. Bệnh mới phát đa số là tà thực, bệnh lâu ngày thường là chính hư. Trên lâm sàng, chỉ khi biện chứng chính xác, nắm chắc nguyên tắc kết hợp giữa hư thực tiêu bản trong điều trị, mới đạt được hiệu quả mong muốn.
Chứng suyễn chỉ là bệnh biến ở phế tạng thôi sao, và khác gì với chứng hen?
Chứng suyễn là một bệnh chứng thường gặp ở thời kỳ trẻ nhỏ, bất luận là suyễn hư hay suyễn thực đều là do chức năng tuyên phát và túc giáng của phế bị rối loạn mà sinh ra thở gấp. Tuy nhiên, suyễn có phải chỉ là bệnh biến của phế tạng không? Câu trả lời là không. Chứng suyễn, đặc biệt là hư suyễn, không chỉ liên quan đến phế mà còn liên quan đến can, tỳ, đặc biệt là thận. Thực suyễn do ngoại tà, đàm trọc, can khí v.v… gây nên, là do khí phế bị ứ trệ mà phát; còn hư suyễn do tinh khí hao tổn, chủ yếu là vì công năng xuất khí của phế và nạp khí của thận đều mất điều độ. Do thận là căn của khí, chủ về nhiếp nạp khí, nếu thận hư sẽ mất chức năng nạp khí, không thể đưa khí quy căn, khiến khí nghịch lên phế mà phát ra chứng suyễn. Thận hư không chỉ khiến khí nghịch lên phế, mà còn liên lụy đến tâm dương, dẫn đến tâm dương hư suy; đồng thời do dương hư, thủy khí ứ đọng bên trong, thậm chí dương khí suy kiệt thoát ra ngoài cũng có thể phát sinh theo đó.
Trước thời Kim Nguyên, các sách y học Trung y ít phân biệt giữa chứng suyễn và chứng hen, đều được luận bàn chung trong phần “chứng thở gấp”. Về sau qua thực tiễn lâm sàng, người đời dần phân biệt được hai chứng, với điểm khác biệt là: suyễn là thở gấp, khó thở, thậm chí há miệng, nhấc vai, nhưng không có âm thanh rít ở cổ họng, và thường phát sinh trong các bệnh cấp hay mạn tính; còn hen là khi thở gấp có kèm âm thanh rít rõ ràng ở họng, là một bệnh mang tính phát tác định kỳ. Từ đó có thể thấy sự khác biệt: hen là lấy âm thanh để gọi tên, suyễn là lấy trạng thái hô hấp để đặt tên. Vì vậy, quan hệ giữa hai chứng là: suyễn có thể không kèm hen, nhưng hen tất có kèm suyễn, nên thường gọi chung là hen suyễn.
Chứng hen có đặc điểm gì, nguyên tắc điều trị ra sao?
Hen là bệnh có tính phát tác, thường khởi phát đột ngột, có khi thấy báo trước như ngứa mũi họng, hắt hơi, ngột ngạt, tức ngực, thở khó v.v…, rồi mới phát bệnh rõ rệt. Cơn phát có thể ngắn trong 1–2 giờ hoặc 1–2 ngày, dài thì kéo đến hơn 10 ngày. Khi phát tác, ngực tức, họng tắc, thở gấp, tiếng to, khí thô, họng có tiếng đàm rít, đàm dính khó khạc, thậm chí há miệng, nhấc vai, mắt trợn lồi như sắp rơi ra, không nằm được, sắc mặt nhợt nhạt, môi tím tái, bứt rứt, trán đổ mồ hôi lạnh, có thể kèm rét nóng. Nếu lúc này khạc được đàm dính ra ngoài thì cảm giác tức ngực giảm, hô hấp dễ dàng, triệu chứng ho suyễn, đàm rít cũng tạm thời thuyên giảm. Từ những biểu hiện khi hen phát tác có thể thấy, bệnh khởi đầu thuộc tà thực ở kinh phế, trị liệu nên lấy công tà làm chính, có thể dùng phép hóa đàm, tuyên phế, giáng nghịch. Tuy nhiên, đàm có thể là đàm hàn hoặc đàm nhiệt, nên cần phân biệt rõ hen hàn hay hen nhiệt mới có thể xử lý chính xác.
Nếu bệnh hen kéo dài, tái phát nhiều lần, phế khí bị hao tổn dần, tất ảnh hưởng đến tỳ và thận. Tỳ hư sinh đàm thấp, lại mất nguồn sinh hóa, vệ khí không vững, càng dễ phát bệnh; thận hư không thể nạp khí, ngay cả lúc bình thường cũng thấy khí đoản, thở gấp. Những thay đổi bệnh lý với chính khí hư tổn, tà ít chính nhiều này cho thấy, khi điều trị bệnh hen mạn tính không nên thiên về công tà, mà cần chú ý bổ chính nạp khí, kết hợp lý khí hóa đàm. Khi bệnh đã thuyên giảm hoặc chưa phát, cần căn cứ tình hình âm dương thiên thắng, tạng phủ mất điều hòa mà dùng phép bổ phế, kiện tỳ, ích thận để giảm nhẹ triệu chứng hoặc khống chế cơn phát, từng bước đạt mục tiêu trị tận gốc.
Tổng kết lại, nguyên tắc điều trị hen cần phân biệt giữa lúc phát và lúc chưa phát. Khi đã phát, tà thực là chính, cần trừ tà trị tiêu; khi phát xong, chính hư là chủ, cần phù chính cố bản. Nếu nắm vững điểm này thì điều trị hen mới có thể đạt hiệu quả tốt.
Trung y phân biệt hàn nhiệt, hư thực trong bệnh hen suyễn như thế nào, nguyên tắc điều trị là gì? Hen hàn: thở gấp, có tiếng rít, đàm loãng trong có bọt, sắc mặt tối, không khát hoặc khát thích uống ấm, hoặc rét nóng mà không ra mồ hôi, lưỡi rêu trắng mỏng hoặc trơn, mạch phù khẩn. Hen nhiệt: ngực phồng, thở hổn hển, rít họng thành tiếng, đàm đặc vàng, ho khó khạc, ngực nóng bức, mặt đỏ, táo bón, khát thích uống lạnh, lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch hoạt sác.
Suyễn thực do tà thực gây ra, suyễn hư do nguyên khí hư. Suyễn thực là thở dài mà dư khí, suyễn hư là khí đoản không tiếp. Suyễn thực thì ngực tức, khí thô, tiếng to, thở hổn hển, phình tức đến mức không chịu nổi, chỉ thở ra mới thấy dễ; suyễn hư thì hoảng hốt, khí yếu, tiếng nhỏ, thở ngắn, như sắp đứt hơi, động một chút thì nặng, nhưng sau khi thở sâu thì đỡ tạm thời.
Nguyên tắc điều trị tổng quát bệnh hen suyễn ở trẻ em là: khi chưa phát thì nên chủ về phù chính khí, khi đã phát thì chủ về công tà, đây là đại pháp điều trị căn bản của chứng này. Hàn tà nên ôn phế hóa đàm, đàm nhiệt thì nên thanh nhiệt tuyên phế. Hen suyễn ở trẻ khi phát cơn cấp tính thì chủ yếu là tà thực, nên dùng phép công tà để trị phần ngọn, chú trọng điều lý phế và tỳ, thường dùng các phép hóa đàm, tuyên phế, giáng khí. Giai đoạn lui bệnh là chính khí hư tổn, nên phù chính để cố gốc, chú trọng phù tỳ ích thận, bồi thổ sinh kim, điều chỉnh chức năng tạng phủ, loại trừ căn nguyên sinh đàm, mong giảm nhẹ và ngăn ngừa tái phát, tiến tới điều trị tận gốc.
Hen phế quản trị phần tiêu (ngọn) như thế nào?
Lãnh hen
(1) Biểu hiện lâm sàng: thở gấp, họng có tiếng rít, đàm trong loãng ít, màu trắng có bọt, ngực đầy tức như bị bít, sắc mặt tối hơi xanh, không khát hoặc khát thích uống ấm, rêu lưỡi trắng trơn, mạch huyền khẩn hoặc huyền hoạt.
(2) Trị pháp cơ bản: ôn phế tán hàn, hóa đàm thông khiếu.
(3) Phương thuốc cơ bản: Xạ can ma hoàng thang gia giảm, gồm ma hoàng 6g, xạ can 6g, sinh khương 3 lát, tế tân 3g, tử uyển 9g, khoản đông hoa 9g, ngũ vị tử 3g, bán hạ 9g, đại táo 5 quả.
(4) Gia giảm theo triệu chứng: đàm nhiều thêm cúc hoa 9g, bạch giới tử 9g; ít đàm mà suyễn nặng thêm Tam tử dưỡng thân thang (tô tử 9g, bạch giới tử 9g, lai phục tử 12g) hợp đình lịch tử 9g; tay chân lạnh, mạch yếu thêm chế phụ tử 9g, can khương 6g; ngứa họng, hắt hơi nhiều thêm tân di 9g, thương nhĩ tử 9g; sợ lạnh, nghẹt mũi, chảy nước mũi thêm tô diệp 9g, quế chi 9g, xuyên khung 9g.
① Nếu kèm sợ lạnh, đau mình… biểu chứng ngoại cảm thì đổi dùng Tiểu thanh long thang (ma hoàng 6g, quế chi 9g, tế tân 3g, can khương 3g, ngũ vị tử 3g, bạch thược 9g, bán hạ 9g, cam thảo 6g) để ôn phế hóa ẩm.
② Nếu đàm nhiều, ngực đầy, ăn kém thì dùng Nhị trần thang (trần bì 9g, bán hạ 9g, phục linh 9g, cam thảo 6g, ô mai 6g) để kiện tỳ hóa đàm.
③ Sau khi điều trị, biểu giải mà suyễn giảm thì dùng Tô tử giáng khí thang (tô tử 9g, cúc hoa 6g, bán hạ 9g, đương quy 9g, tiền hồ 9g, hậu phác 9g, nhục quế 6g, cam thảo nướng 9g, sinh khương 3 lát, đại táo 15g) để hóa đàm thuận khí.
④ Sau cơn, nếu ho và đàm loãng nhiều thì dùng Lạnh hen hoàn (ma hoàng, hạnh nhân, tế tân, cam thảo, đảm tinh, bán hạ, xuyên ô, xuyên tiêu, bạch phàn, nha tạo, tử uyển, khoản đông hoa, thần khúc làm hoàn, sắc sinh khương uống, mỗi ngày 6g) để ôn phế hóa đàm, từng bước trị gốc.
Nhiệt hen
(1) Biểu hiện lâm sàng: thở gấp, họng rít, ngực căng, khí thô, thở dồn dập, ho dữ dội từng cơn, đàm đục đặc vàng dính, ho khạc khó, ngực đầy tức, bứt rứt không yên, mặt đỏ, miệng khô, miệng đắng thích uống, người nóng ra mồ hôi, lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch hoạt sác.
(2) Trị pháp cơ bản: tuyên phế thanh nhiệt, hóa đàm giáng nghịch.
(3) Phương thuốc cơ bản: Việt bì gia bán hạ thang gồm ma hoàng 6g, thạch cao 15g, sinh khương 3 lát, bán hạ 9g, cam thảo 3g, đại táo 5 quả.
(4) Gia giảm theo triệu chứng: đàm nhiều thêm đảm tinh 9g, qua lâu 9g; sốt thêm kim kiều mạch 9g, bản lam căn 9g, ngư tinh thảo 15g; phế âm đã tổn mà đàm nhiệt chưa tan thì bỏ ma hoàng, thêm sa sâm 9g, ngọc trúc 9g, xuyên bối mẫu 6g.
① Nếu biểu đã giải mà suyễn chưa giảm, đàm nhiệt còn tồn tại trong phế, ho đàm vàng đặc thì dùng Định suyễn thang (ma hoàng 6g, bạch quả 9g, tang bạch bì 9g, khoản đông hoa 9g, bán hạ 9g, tô tử 9g, hoàng cầm 9g, hạnh nhân 9g, cam thảo 9g) để tuyên phế thanh nhiệt, hóa đàm bình suyễn.
② Nếu kèm bụng đầy, táo bón, thở khí thô, lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch trầm thực có lực thì nên tả hạ bình suyễn, dùng Hậu phác đại hoàng thang (hậu phác 9g, đại hoàng 6g, chỉ thực 9g).
③ Nếu chưa hư yếu, suyễn mà đàm không khạc ra, ngồi không nằm được thì dùng Tạo giác hoàn (tạo giác, mật làm hoàn, dùng cao táo làm thang đưa thuốc) mỗi ngày 6g để trừ đàm thông khiếu.
④ Nếu suyễn đỡ hơn, chính khí hư mà đàm trọc chưa tan thì dùng Toàn phục đại giả thang (toàn phục hoa 9g, đại giả thạch 15g, nhân sâm 6g, cam thảo 9g, bán hạ 9g, sinh khương 3 lát, đại táo 9g) để phù chính giáng nghịch, thuận khí hóa đàm.
Hen phế quản điều trị căn bản (gốc) như thế nào?
Phế hư
(1) Biểu hiện lâm sàng: dễ bị hen do thay đổi thời tiết, thường sợ lạnh, tự ra mồ hôi, trước khi phát cơn hay hắt hơi, nghẹt mũi, chảy nước mũi, rêu mỏng, lưỡi nhợt mềm, mạch tế nhược.
(2) Trị pháp cơ bản: bổ phế cố biểu.
(3) Phương thuốc cơ bản: Ngọc bình phong tán hợp Quế chi gia hoàng kỳ thang gồm hoàng kỳ 12g, phòng phong 6g, bạch truật 9g, quế chi 6g, bạch thược 9g, cam thảo 3g, sinh khương 3 lát, đại táo 5 quả.
(4) Gia giảm theo chứng: ho suyễn tái phát thêm đương quy 9g, kha tử 6g; đàm trắng khạc không sướng thêm bán hạ 9g, trần bì 9g, tô tử 9g; khí đoản đổ mồ hôi thêm nhân sâm 9g, mạch môn 9g, ngũ vị tử 9g; hồi hộp, mất ngủ thêm bách hợp 9g, phục linh 9g, viễn chí 6g; giai đoạn hen ổn định có thể dùng Sâm hợp tán 6g (nhân sâm, cáp giới) để ích khí dưỡng phế, phù chính.
Tỳ hư
(1) Biểu hiện lâm sàng: thường ho và đàm nhiều, ăn ít, đầy tức vùng thượng vị, mệt mỏi, đại tiện không thành khuôn hoặc ăn đồ dầu mỡ dễ tiêu chảy, thường do ăn uống không điều độ mà phát bệnh, rêu lưỡi trắng mỏng, lưỡi mềm nhợt to, mạch hoãn nhược. (2) Trị pháp cơ bản: kiện tỳ hóa đàm. (3) Phương thuốc cơ bản: Lục quân tử thang, gồm đảng sâm 9g, bạch truật 9g, phục linh 9g, trần bì 6g, bán hạ 9g, cam thảo 3g. (4) Gia giảm theo triệu chứng: đại tiện lỏng, sợ lạnh, tay chân lạnh thêm nhục quế 6g, can khương 6g, hoài sơn 9g, nhục đậu khấu 6g; đầy bụng tức ngực, chán ăn thêm mộc hương 9g, bạch giới tử 9g, can khương 6g; khí đoản, sắc mặt trắng nhợt, thiếu lực thêm hoàng kỳ 12g, đương quy 9g, bạch thược 9g, long nhãn nhục 6g.
Thận hư
(1) Biểu hiện lâm sàng: khí nghịch dễ suyễn, khí đoản, thở dốc, đàm trắng có bọt, động thì hồi hộp, đau lưng mỏi gối, chóng mặt ù tai, nam giới thường di tinh, xuất tinh sớm, tiểu nhiều, tiểu đêm rõ, nước tiểu nhạt, rêu lưỡi trắng mỏng, lưỡi nhợt mềm, mạch trầm tế vi. (2) Trị pháp cơ bản: bổ thận nạp khí. (3) Phương thuốc cơ bản: Phụ quế bát vị hoàn gia giảm, gồm phụ tử 3g, nhục quế 3g, thục địa hoàng 24g, sơn thù du 12g, hoài sơn 12g, phục linh 9g, đan bì 9g, trạch tả 9g, bột tử hà xa 3g (uống nuốt), hạch đào nhục 9g, bổ cốt chỉ 9g, cáp giới 3g. (4) Gia giảm theo triệu chứng: sợ lạnh, tay chân lạnh, động thì suyễn nặng thêm tử thạch anh 15g, khảm thử 2 con; suyễn nặng kèm tiểu són thêm ngũ vị tử 6g, ích trí nhân 9g, trạch tả 9g, long cốt nung 15g, mẫu lệ nung 30g; đại tiện lỏng thêm can khương 6g, nhục đậu khấu 9g, bạch truật 9g, phục linh 9g; suyễn nặng ra mồ hôi như dầu thêm nhân sâm 6g, ngũ vị tử 9g, đại giả thạch 15g.
Cương yếu biện trị bệnh hen suyễn là gì? (1) Biện chứng luận trị trong giai đoạn phát bệnh của hen suyễn
① Hàn suyễn (hen lạnh): hàn suyễn thường gặp hơn nhiệt suyễn, những ca bệnh dai dẳng hay tái phát phần nhiều thuộc hàn suyễn kèm dương hư. Thể bệnh này khi phát cơn thường biểu hiện thở dốc, khí gấp, họng có tiếng như gà nước, đàm trắng trong loãng, ngực đầy tức khí, sắc mặt tối ám, không khát hoặc thích uống ấm, lưỡi rêu trắng mỏng hoặc trắng nhớt, bề mặt lưỡi trơn ướt, thủy khí nhiều, mạch huyền hoạt hoặc phù khẩn. Pháp trị chủ yếu là ôn phế hóa ẩm, thường dùng các phương như Tiểu thanh long thang, Xạ can ma hoàng thang. Tuy phương đơn giản, nhưng sau gia giảm linh hoạt thì hiệu quả bình suyễn hóa đàm rất rõ. Lấy Tiểu thanh long thang làm ví dụ, thấy trong Thương hàn luận, Kim quỹ yếu lược, thường dùng trị hàn suyễn, là phương tốt để phát tán ngoại hàn, trừ ẩm bên trong. Trung y khi luận bệnh hô hấp, đặc biệt là các chứng ho suyễn, thường nhắc đến đàm ẩm, mà trong sách cổ đàm và ẩm thường dùng chung, như nói: “thủy tích thành ẩm, ẩm kết thành đàm”. Cho thấy đàm và ẩm đều bắt nguồn từ thủy thấp dư thừa trong cơ thể, chỉ khác ở độ sánh – đàm thì đặc hơn ẩm, ẩm thì loãng hơn đàm, hợp gọi là đàm ẩm. Bệnh hen suyễn càng có liên hệ mật thiết với đàm ẩm. Cổ nhân đã sớm chỉ ra: bệnh hen suyễn là do “đàm ẩm nội phục, kết thành ổ trú”. Do đó điều trị hen suyễn phải chú trọng hóa đàm ẩm. Trên lâm sàng thường dùng Tiểu thanh long thang hợp Tam tử dưỡng thân thang gia giảm, gồm: ma hoàng 6–9g, tế tân 3g, can khương 3–6g, bán hạ 9–12g, ngũ vị tử 3g, cam thảo 3–6g, tô tử 9g, bạch giới tử 9–12g. Dùng phương này trị hen lạnh thường đạt hiệu quả bình suyễn hóa đàm rõ rệt. Khi sử dụng phương này cần nắm một số điểm:
① Ma hoàng là chủ dược tuyên phế bình suyễn. Có loại sống và sao, liều dùng người lớn: dùng sống 6–9g, sao 9g, cũng có thể tăng thêm tùy tình hình. Trẻ em cần giảm liều tương ứng, tuy nhiên bệnh hen ở trẻ biến hóa nhanh, nhất là những ca khó trị, cần dùng liều cao ma hoàng để tuyên phế bình suyễn. Có người lo ngại rằng khi hen phát cơn cấp tính thường ra nhiều mồ hôi, nếu dùng nhiều ma hoàng thì lo “ra mồ hôi mất dương” (suy kiệt), nhưng thực ra lo lắng này không cần thiết, đa số bệnh nhân sau khi suyễn thuyên giảm thì mồ hôi cũng giảm. Cho thấy ra mồ hôi nhiều là do phát cơn hen, khi suyễn giảm thì mồ hôi tự lui. Việc dùng ma hoàng ở đây không phải để phát biểu mà là trị suyễn, hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc trị bệnh cầu bản. Còn nếu hàn suyễn kèm dương hư mà ra mồ hôi nhiều thì cần biện luận riêng về phương và thuốc.
② Về gia giảm phương trên: lấy sáu vị của Tiểu thanh long thang gồm tế tân, ma hoàng, can khương, bán hạ, ngũ vị tử, cam thảo, có tác dụng ôn phế chỉ khái, hóa ẩm chỉ ẩu, nạp khí hòa trung; lại thêm Tam tử dưỡng thân thang là phương chủ trị đàm, gồm tô tử, bạch giới tử, lai phục tử, có công năng giáng khí hóa đàm, càng tăng hiệu quả bình suyễn hóa đàm của Tiểu thanh long thang.③ Nếu kèm thận hư, dương hư thì thường chọn dùng phụ tử để ôn dương phù thận.
② Nhiệt suyễn (hen nóng)
Thể bệnh này phần nhiều do đàm nhiệt uất kết tại phế gây ra. Thông thường dùng Ma hoàng – Hạnh nhân – Thạch cao – Cam thảo thang làm chủ phương, phối hợp thêm thuốc thanh nhiệt hóa đàm. Nếu nhiệt nhẹ có thể dùng Định suyễn thang. Khi đàm nhiệt uất phế làm tổn thương âm khí, có thể dùng Ma hạnh thạch cam thang gia thêm Hoàng cầm, Qua lâu nhân, Bối mẫu để thanh phế hóa đàm bình suyễn, phối thêm Sa sâm, Mạch môn, Ngọc trúc để dưỡng âm sinh tân.
Nếu biện chứng thấy thượng tiêu có đàm nhiệt uất phế, hạ tiêu lại có thận dương hư tổn, thận khí không nạp, thì có thể dùng phép “thanh thượng ôn hạ”, dùng Ma hạnh thạch cam thang gia thêm Phụ tử và Hắc tích đan.
(2) Biện chứng luận trị trong giai đoạn lui bệnh của hen suyễn
Cổ nhân từng nói: “Loại chứng này, cần lấy nguyên khí làm gốc, tất phải làm cho nguyên khí dần đầy đủ, mới mong khỏi bệnh.” Ý nói chỉ có thể thông qua trị liệu phù chính cố bản thì nguyên khí mới dần đầy đủ, đạt đến mục đích trị tận gốc.
①Phế hư: Thường phát bệnh do thay đổi nhiệt độ, vốn dễ cảm lạnh, sợ lạnh dễ ra mồ hôi. Thường dùng Ngọc bình phong tán, nếu không hiệu quả thì phối với Quế chi thang.
② Tỳ hư:Ăn ít, đầy tức vùng thượng vị, chướng bụng, đại tiện không thành khuôn. Thường chọn Nhị trần thang gia Đảng sâm, Bạch truật. Nếu thấy đàm thấp nội trở thì gia Thương truật, Hậu phác để vận tỳ hóa thấp. Nếu sợ lạnh, tay chân lạnh, đại tiện loãng, tiểu tiện trong dài, thì phỏng theo phép Lý trung thang, thêm Thục phụ khối, Can khương (hoặc Pháo khương) để phù dương vận tỳ.
③ Thận hư:Nếu biện chứng là thận dương bất túc thì dùng Kim quỹ thận khí hoàn; nếu là thận âm hư thì dùng Lục vị địa hoàng hoàn hoặc Tri bá bát vị hoàn.
Lâm sàng có nhiều thuốc ôn thận như Nhục quế, Phụ tử, Lộc nhung, Tử hà xa, Cáp giới, Lưu hoàng, Tiên mao, Tiên linh tỳ, Phá cố chỉ, Ba kích thiên v.v… Trong đó Phụ tử được dùng nhiều, có các cách phối như sau:① Phụ tử phối Can khương trị dương hư trung hàn;② Phụ tử phối Thương truật, Bạch truật trị tỳ thận dương khí hư, đàm thấp nội trở;③ Phụ tử phối Ma hoàng, Tế tân dùng cho dương hư kèm suyễn ho rõ rệt;④ Phụ tử phối Sinh địa, Ngũ vị tử có tác dụng ôn thận nạp khí, dùng cho khí đoản khó thở;⑤ Phụ tử phối Long cốt, Từ thạch để dẫn hỏa quy nguyên;⑥ Phụ tử phối Hoàng cầm, Thạch cao trị thận dương hư kiêm đàm nhiệt uất phế.
(3) Đặc điểm phòng và điều trị bệnh hen suyễn
① Bảo vệ phế khiếu: người bị hen cần chú ý phòng cảm lạnh, điều trị kịp thời viêm mũi, viêm họng và dị ứng da.
② Khai thông khí đạo: đàm cản khí cơ, khí đạo không thông, nên cần áp dụng kịp thời các phép trừ đàm tiêu viêm, tuyên phế hóa đàm.
③ Bổ tỳ thận: bổ ích tỳ thận, nhất là ôn thận phù dương là phép trị gốc, giúp phòng trị hen hiệu quả.
④ Ba loại rèn luyện: tức là rèn luyện chịu lạnh, thể thao, hô hấp thường xuyên để tăng cường thể chất, cải thiện chức năng phổi.
Vì sao điều trị hen suyễn cần xét kỹ hư thực?
Hen phế quản là tiếng thở rít, bệnh do khí đạo của phế bị cản trở, thủy ẩm tích lại thành đàm, hàn ẩm hoặc đàm nhiệt uất tích trong phế, thường do ngoại tà hoặc ăn uống kích phát; kéo dài tái phát nhiều lần khiến ngực đầy tức, thở khó, trở thành phế trướng. Vì thế có câu “hen tất kèm suyễn, suyễn chưa chắc có hen” (Hao tất kiêm suyễn, nhi suyễn vị tất kiêm háo).
Việc điều trị cần dừng phát tác trước, phải phân biệt kỹ hư thực. Biện chứng hư thực chủ yếu căn cứ vào tiếng thở và khí tức.
Thực chứng: khởi bệnh đột ngột, thời gian bệnh ngắn, khí dài và dư, hoặc có tiếng đàm rít, ngực tức, khí thô, chỉ thở ra mới dễ chịu. Trị liệu lấy tả thực làm chính, có thể dùng Bạch quả nhân, Ma hoàng, Khoản đông hoa, Tảo hưu, Bán hạ, Tang bạch bì, Tô tử, Đình lịch tử, Đại táo, Xà đởm, Trần bì tán, Địa long. Uống thuốc sau 2 giờ mà hen chưa giảm có thể sắc uống lần nữa.
Hư chứng: bệnh kéo dài, khi phát có tiếng đàm rít, ngực tức, khí bế, không nằm được; sau phát cơn thường khí đoản không tiếp, như muốn đứt, lại suyễn gấp, nhưng thở sâu dài thì thấy dễ chịu. Khi phát cơn nên luận theo trên hư dưới thực, dùng Tô tử, Đình lịch tử, Trần bì, Bán hạ, Đương quy, Tiền hồ, Trầm hương, Xuyên hậu phác, Cam thảo nướng, Đại táo. Sau phát cơn thì luận theo hư mà bổ, chủ yếu kiện tỳ bổ thận.
Trung y điều trị bệnh hen suyễn như thế nào?
Cơ chế gây bệnh hen phế quản chủ yếu do đàm ẩn bên trong cản trở, phế khí không thông mà sinh ra, bệnh này có thể phân biệt thành thể hàn, nhiệt, hư, trong đó chứng hàn tương đối thường gặp. Do hen phát lâu không dứt, thường làm thận dương suy yếu, thủy hóa thành đàm, hoặc âm hư hỏa vượng, đốt dịch thành đàm. Hen lạnh thường gặp, biểu hiện thở gấp, họng có đàm rít, đàm trong loãng, ngực đầy tức, rêu lưỡi trắng trơn, mạch phù khẩn, trị nên ôn phế tán hàn, hóa đàm thông khiếu, dùng bài “Phí thị nga lê thang” làm chủ. Phương gồm Hạnh nhân, Tô tử, Qua lâu nhân mỗi vị 9g, Bán hạ 9g, Trần bì 4,5g, Phục linh 9g, một chén nước lê tươi, Chung nhũ thạch 12g, Ma hoàng 6g, Tang bì 9g, Đương quy 6g, sắc uống. Giải thích: phương này dùng Hạnh – Tô – Nhị trần gia Tang bì để giáng khí hóa đàm, Ma hoàng để phát biểu tán hàn, nước lê vị ngọt lạnh nhuận phế, Chung nhũ thạch vị ngọt ấm trợ dương, Đương quy điều hòa huyết. Toàn phương lấy công tà làm chủ, nhưng trong công có bổ, lấy trừ hàn làm trọng, nhưng trong ôn có nhuận, phối ngũ tinh diệu, thích hợp với chứng hàn. Phép bình can giáng nghịch, lý khí hóa đàm trị chứng suyễn nghịch đàm khạc không trôi, rêu lưỡi vàng nhớt. Phương gồm: Xuyên bối 6g, Hạnh nhân 9g, Bán hạ 9g, Trần bì 4,5g, Trúc lịch 30g, nước gừng tươi 10 giọt, Toàn phục hoa 6g, Tử thạch anh 12g, Tây dương sâm 6g, Đuôi cáp giới 6g, Bạch tật lê 9g, Xơ mướp 6g, sắc uống. Bệnh này phế thận đều hư, nên dùng Tây dương sâm để bổ khí phế, Cáp giới để nạp khí thận, lại dùng Hạnh, Bối, Bán hạ, Trần bì, Trúc lịch, Toàn phục hoa, Tử thạch anh v.v. để thanh nhiệt hóa đàm trị phần ngọn, phương thuốc thiết lập ổn trọng, có hiệu quả nhất định đối với thể nhiệt hư của hen.
Thế nào là “tám phép trị suyễn”?
① Tuyên phế tán hàn, giải biểu hóa ẩm: Phế là tạng thanh hư, chủ về thông thoáng, hấp thu thanh khí và bài trừ trọc khí, khí cơ cần được thông suốt. Tà khí phong hàn xâm nhập từ bì mao, kết hợp với phế, hoặc ẩn phục đàm ẩm bên trong, đều có thể làm khí cơ ứ trệ, tuyên giáng mất chức năng, khí nghịch gây suyễn. Nếu thấy thở dốc, tức ngực, khạc đàm loãng, chảy nước mũi trong, cảm lạnh không ra mồ hôi, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch phù khẩn, thì nên tuyên phế tán hàn, chỉ khái định suyễn, dùng Ma hoàng thang làm chủ. Do biểu thực lý uất nên phải giải biểu, dùng Ma hoàng, Quế chi phát hãn, Hạnh nhân tuyên phế, phối Cam thảo giữ âm dịch, đây là phương dành cho biểu thực. Nếu thể âm thịnh gặp ngoại tà tất làm động đàm ẩn, nếu lạc phế ứ tắc, chức năng tuyên giáng kém, khí nghịch gây suyễn. Chứng biểu hiện thở dốc, ho suyễn, nặng thì phải ngồi không nằm được, đàm trắng loãng có bọt, sợ lạnh phát sốt, không ra mồ hôi, không khát, rêu lưỡi trắng trơn, mạch phù khẩn hoặc hoạt, trị nên giải biểu tán hàn, tuyên phế hóa ẩm, dùng bài Tiểu thanh long thang của Trương Trọng Cảnh gia vị. Vì bị hàn bên ngoài và ẩm bên trong cùng phạm vào phế, nên dùng Ma hoàng thang bỏ Hạnh nhân để phát hãn giải biểu, thêm Ngũ vị tử, Can khương, Tế tân, Pháp hạ, Bạch thược, Tô tử, Bạch tiền v.v. để ôn phế chỉ khái, giáng khí bình suyễn, trục ẩm.
② Tán hàn thanh nhiệt, giáng nghịch bình suyễn: người có sẵn đàm ẩm gây suyễn ho, lưu trú ở phế, lại cảm ngoại tà, trong ngoài cùng kết, cản trở phế khí, hàn ở ngoài uất thành nhiệt, đàm ẩm kết hợp, biểu lý đồng bệnh. Biểu hiện thở gấp, mắt lồi như muốn rơi ra, khạc đàm vàng, sợ lạnh sốt, đau đầu không ra mồ hôi, khát nước, lưỡi đỏ, mạch phù hoạt sác. Trị nên giải biểu tán hàn, thanh phế hóa đàm, dùng bài Việt bì gia bán hạ thang làm chủ. Do nhiệt đàm bốc lên che phế, nội nhiệt tràn đầy, có xu hướng bộc phát, bệnh nhân thường bức bối khác thường, nên dùng Sinh khương hỗ trợ Ma hoàng khai uất phế, Bán hạ giáng nghịch trừ ẩm tiêu đàm, Sinh thạch cao vị cay ngọt lạnh thanh nhiệt giải biểu, tuy hàn mà không ngưng trệ, Cam thảo, Đại táo điều hòa trung khí phối hợp các vị thuốc. Nếu nhiệt nặng hơn ẩm thì trọng dùng Thạch cao, nếu ẩm nặng hơn nhiệt thì không nên dùng quá nhiều. Nếu đàm ẩm nặng, biểu uất nhiệt nhẹ, ho tức ngực, mạch phù, có thể dùng Hậu phác ma hoàng thang, là bài Ma hạnh thạch cam thang bỏ Cam thảo, dùng Tiểu mạch, thêm Hậu phác trừ đầy hạ khí, Bán hạ, Can khương, Tế tân hóa ẩm chỉ khái, Ngũ vị tử liễm khí phế. Nếu đàm đặc dính, ho nghịch, thở dốc, thường khạc đàm đục, ngồi không nằm được thì dùng Tạo giác hoàn để thanh tả, đàm tan khí thông thì phế an.
③ Thanh nhiệt hóa đàm, tuyên phế bình suyễn: do ngoại tà xâm nhập, vào trong hóa nhiệt, chức năng thanh túc của phế bị mất điều tiết, hoặc do ăn uống không điều độ, ăn nhiều đồ béo ngọt, tích thấp sinh nhiệt, hun đốt ở phế, hoặc phế vốn có uất nhiệt, đốt dịch sinh đàm, đàm nhiệt cản trở phế, nhiệt không thoát được, đều dẫn đến khí phế nghịch lên gây suyễn gấp. Biểu hiện thở gấp, họng có tiếng đàm, đàm vàng đặc, hoặc đàm trắng dính, miệng khát thích uống, mặt đỏ ra mồ hôi, lưỡi đỏ rêu vàng nhớt, mạch hoạt sác. Trị nên thanh nhiệt hóa đàm, tuyên phế bình suyễn, thường dùng Ma hạnh thạch cam thang gia vị làm chủ. Phương dùng Ma hoàng tuy vị cay đắng mà tính ôn, gặp Thạch cao cay mát ngọt lạnh, hai vị hỗ trợ nhau, có công dụng tán tà mà không gây khô táo, lại thêm Cam thảo điều hòa mạnh mẽ, Hạnh nhân tuyên thông uất tắc, phù hợp với chức năng tuyên giáng của phế, thuận thế dẫn khí; gia thêm Qua lâu, Tang bì, Chiết bối, Tiền hồ, Trúc nhự có công năng thanh kim, hóa đàm, chỉ khái, trị đàm nhiệt ở phế rất hay; Cát cánh vị cay tán, đắng tiết, dẫn đàm bài xuất. Dùng chung các vị này để tuyên tán uất nhiệt, thanh phế bình suyễn, giúp phế khí được thông suốt, nhiệt lý được tiêu trừ thì các chứng ho suyễn sẽ tự lui. Nếu đàm nhiều, thở gấp, cánh mũi phập phồng rõ, có thể gia Đình lịch tử, Tỳ bà diệp để thanh túc phế khí; nếu đại tiện táo bón thì gia thêm Đại hoàng, Mang tiêu để tả nhiệt thông tiện.
(4) Khai uất hóa đàm, giáng khí bình suyễn: Bệnh kéo dài, tình chí uất ức, lo nghĩ làm khí kết, phế khí bị bế tắc, khí cơ không thông, hoặc giận dữ thương can, can khí nghịch lên phế, làm phế khí mất công năng túc giáng, thăng nhiều giáng ít, khí nghịch mà sinh suyễn. Biểu hiện có thể là thở dốc đột ngột, ho khạc đàm, ho gây chóng mặt đau hông, họng khó chịu, ngực tức không thoải mái, kèm mất ngủ, hồi hộp, rêu lưỡi trắng, mạch huyền. Trị nên hành khí giải uất, giáng nghịch bình suyễn, dùng bài Việt cúc hoàn hợp Bán hạ hậu phác thang. Thuốc dùng Hương phụ điều khí sơ can, giỏi giải khí uất; Thương truật, Phục linh, Pháp hạ táo thấp kiện tỳ, tán kết hóa đàm; Xuyên khung hành khí hoạt huyết; Chi tử thanh nhiệt trừ phiền; Hậu phác giáng khí trừ mãn; Tô diệp khoan trung giải uất; Sinh khương giáng nghịch tán hàn; Kiến khúc tiêu thực hòa vị. Phối hợp như vậy để trị gốc, không trị trực tiếp chứng suyễn mà suyễn tự lui, có thể gọi là phép trị phù bản cầu nguyên. Nếu kèm hồi hộp, mất ngủ thì gia Bách hợp, Dạ giao đằng, Viễn chí để an thần dưỡng tâm; khí uất hóa hỏa, hỏa tà khắc kim, khí nghịch ho suyễn thì có thể dùng Tả bạch tán gia Tượng bối mẫu, Tỳ bà diệp để túc giáng phế khí, tăng hiệu quả thanh nhiệt định suyễn.
(5) Ích khí dưỡng âm, nhuận phế bình suyễn: Suyễn là khí nghịch, thường gặp đàm nhiều, nhưng cũng thường gặp suyễn mà không có đàm, thường là do hen suyễn lâu ngày, khí âm ở phế bị hao tổn, khiến khí mất chủ, biểu hiện thở gấp khí đoản, khí yếu tiếng nhỏ, ho khẽ đàm ít, hoặc ho rít, đàm dính, bứt rứt miệng khô, họng không trơn, lưỡi đỏ, rêu tróc hoặc ít dịch, mạch nhược hoặc tế sác. Trị chứng hư dùng ngọt lạnh mát nhuận, chủ yếu lấy ngọt lạnh để dưỡng âm, chú trọng vào ích khí dưỡng âm, nhuận phế chỉ suyễn, thường dùng Sinh mạch tán hợp Bách hợp cố kim thang gia vị. Phương lấy Sinh mạch tán vị chua ngọt hóa âm, ích khí dưỡng âm, lại thêm Mạch môn, Bách hợp sinh tân nhuận phế; Nhị địa, Huyền sâm tư âm thanh nhiệt; Đương quy, Bạch thược nhu can dưỡng huyết; Bối mẫu, Cát cánh thanh phế hóa đàm; Tỳ bà diệp, Tang bạch bì hóa đàm túc phế; Cam thảo điều hòa các thuốc. Hợp lại có thể làm đầy đủ khí dịch, hư hỏa tự tiêu, đàm tan nhiệt lui, phế hư suyễn gấp tự hết. Nếu có sốt nhẹ hoặc lòng bàn tay chân nóng, phiền nhiệt thì gia Địa cốt bì, Bạch vi, Tri mẫu; nếu đàm dính khó khạc gia Hải hạp phấn; nếu ho nhiều kèm đàm có máu thì gia Bạch mao căn, Ngẫu tiết để thanh nhiệt lương huyết chỉ huyết. Thể hen này sau khi dùng thuốc hiệu quả nên điều dưỡng tỳ vị, vì tỳ là mẹ của phế (thổ sinh kim), sau khi thanh phế cần chăm sóc mẫu khí để thổ vượng sinh kim, thể lực dễ hồi phục.
(6) Kiện tỳ bổ phế, hóa đàm định suyễn: Tố vấn – Khái luận viết: “Tất cả đều tích ở vị, liên quan đến phế, khiến người hay chảy nước mũi, mặt phù thở gấp.” Bởi vì tỳ vị là gốc hậu thiên, chủ vận hóa, phân bố tinh vi nuôi toàn thân, nếu ăn nhiều đồ béo ngọt, sống lạnh, hoặc nghiện rượu tổn thương trung tiêu, tỳ mất kiện vận, tinh khí thủy cốc bị tích lại mà sinh đàm, tỳ hư không thể túc phế, đàm trọc nghịch lên, thăng giáng không điều, gây ra suyễn. Hen do tỳ hư tích thấp sinh đàm khi biện chứng cần rõ tiêu bản thứ tự, linh hoạt điều trị. Nếu thấy ho suyễn đàm nhiều mà dính, khạc không thông, ngực đầy tức, miệng nhớt, ăn kém, lưỡi rêu trắng nhớt, mạch hoạt, thì nên kiện tỳ táo thấp, lý khí hóa đàm. Có thể dùng Nhị trần thang hợp Tam tử dưỡng thân thang gia vị. Trong đó Nhị trần thang là phương hay trị đàm, đặc biệt hay trị thấp đàm, phối Tô tử, Bạch giới tử, Sao lai phục tử, Tử uyển, Đông hoa để chỉ khái trừ đàm, giáng khí định suyễn; Thương truật, Ý dĩ nhân tăng cường kiện tỳ táo thấp, dứt nguồn sinh đàm.
Nếu do nguyên khí tỳ hư, lại thêm phế khí suy, tuy ho suyễn không dứt nhưng biểu hiện thần mệt, khí đoản, sắc mặt kém tươi, tự ra mồ hôi, mạch yếu, quyết không phải thực chứng. Trị nên ích khí kiện tỳ, bồi thổ sinh kim. Dùng Lục quân tử thang gia vị làm chủ. Dùng Thái tử sâm, Cam thảo sao bổ khí tỳ phế; Bạch truật, Phục linh kiện tỳ; Pháp hạ, Trần bì hóa đàm. Nếu có tự hãn thì gia Hoàng kỳ, Phù tiểu mạch để cố biểu liễm hãn; ăn ít, đại tiện lỏng gia Ý dĩ nhân, Liên nhục, Sa nhân, Tiêu thực tam tiên sao để kiện tỳ khai vị; trung khí hạ hãm thì gia Sinh hoàng kỳ để ích khí cố biểu, hư suyễn sẽ tự khỏi.
(7) Bổ phế cố thận, nạp khí định suyễn
Phế chủ khí, thận là gốc của khí. Phế khí giáng là thuận, thận khí tàng là vững. Ho lâu thương phế, phế khí bất túc, khí thất chủ; hoặc lao lực tổn thận, tinh khí hao tổn, gốc rỗng, không thể nhiếp nạp, khí nghịch lên trên đều có thể gây suyễn. Biểu hiện suyễn kéo dài, khí đoản không đủ thở, thở ra nhiều hít vào ít, động là suyễn tăng, khí yếu tiếng nhỏ, đàm nhiều trong loãng, đau mỏi lưng gối, lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch trầm tế – đây là hen do phế thận khí hư. Bệnh ở trên nên cầu ở dưới, phế chủ khí nhưng khí quy về thận, thận không nạp khí ắt gây suyễn, có thể cúi mà không thể ngửa, là biểu hiện của hư. Dùng Nhân sâm để bổ khí phế mạnh nhất, Cáp giới để ôn khí thận hiệu quả nhất, hai vị phối hợp để bổ cả phế lẫn thận, hàm ý kim thủy tương sinh. Phục linh, Cam thảo sao điều hòa kiện tỳ, Hạnh nhân, Chiết bối hóa đàm giáng khí, Tri mẫu, Tang bạch bì tả phế thanh kim, gia thêm Hồ đào, Ngũ vị tử, Bạch quả sao để tăng hiệu quả bổ thận liễm phế, nạp khí định suyễn. Nếu phế thận âm hư, ho suyễn, khí yếu, mặt đỏ… có thể dùng Đô khí hoàn gia giảm, phối thêm các vị thu nạp định khí để trị hen do thận hư, hiệu quả sẽ vững chắc.
(8) Ôn dương hóa ẩm, trừ đàm bình suyễn
Bệnh do tỳ hư khiến thủy khí tụ lại ở trung tiêu, làm tổn thương tỳ dương, hàn sinh từ bên trong, xâm phạm lên phế, khiến chức năng túc giáng bất thường, khí nghịch lên gây suyễn. Biểu hiện ho suyễn, tức ngực, không nằm được, đàm nhớt nhiều, miệng nhạt, ăn kém, đại tiện lỏng, nặng thì mặt chân phù, lưỡi nhạt to, rìa lưỡi có răng cưa, rêu trắng trơn, mạch trầm huyền – là do dương không hóa âm, nên dùng thuốc cay ngọt hóa dương, ngọt nhạt trừ thấp, lấy pháp ôn hòa của Trương Trọng Cảnh để điều trị. Dùng phương Linh quế truật cam thang hợp Nhị trần thang gia vị. Trong phương có Quế chi, Cam thảo sao, Bạch truật thông dương vận tỳ; Trần bì, Phục linh thấm thấp lợi thủy; Pháp hạ, Trần bì sao táo thấp hóa đàm; Hậu phác giáng nghịch bình suyễn. Nếu tỳ dương hư suy có thể phối Lý trung thang để ôn trung ích khí. Nếu tỳ dương hư lâu ngày không phục, suyễn lâu thì thận dương cũng suy, biểu hiện ho suyễn, khí đoản tiếng yếu, mặt chân phù, đàm trong loãng, hồi hộp, sợ lạnh, tiểu ít, đại tiện lỏng… rõ là tỳ thận dương hư. Dùng Chân vũ thang hợp Ngũ linh tán gia giảm. Trong đó Chân vũ thang ôn dương thận để tiêu âm ẩn, phối Ngũ linh tán tăng công hiệu thông dương lợi thủy, trừ thủy tà. Nếu phù nhiều, suyễn nặng thì gia Trầm hương, Đình lịch tử để tả phế định suyễn; đàm nhiều trong loãng thì thêm Tô tử, Nga quản thạch, tùy chứng mà điều chỉnh, hiệu quả sẽ rõ rệt.
Kết hợp phương thuốc cơ bản và biện chứng phân thể để điều trị hen suyễn như thế nào?
(1) Phương thuốc cơ bản điều trị hen suyễn: Ma hoàng 5g, Hạnh nhân 10g, Địa long 10g, Toàn yết 3g (nghiền bột pha uống), Xuyên khung 10g.
Giải phương: Ma hoàng tuyên thông phế khí, giải biểu tán hàn; Hạnh nhân thông giáng phế khí, hóa đàm nhuận táo. Hai vị phối hợp – một tuyên một giáng – giúp phế khí tuyên giáng đúng chức năng. Địa long, Toàn yết, Xuyên khung là thuốc kinh nghiệm, có công năng giải kinh hoạt lạc, bình suyễn.
(2) Biện chứng luận trị lâm sàng
1/ Đàm nhiệt uất phế: biểu hiện sốt, khạc đàm vàng, dính khó ra, rêu lưỡi vàng nhớt. Dùng phương cơ bản gia Hoàng cầm, Xuyên bối, Đình lịch tử. Nếu nhiệt nặng, gia Sinh thạch cao. Nếu đàm nhiều, gia Lai phục tử, Tô tử, Toàn qua lâu. Đàm đục dính khó khạc, gia Hải phù thạch, Sinh hà khôi.
2/ Phế táo nhiệt: biểu hiện họng khô, lưỡi khô, ngứa họng ho liên tục, đàm ít khó ra, lưỡi đỏ ít dịch. Phương cơ bản gia Bắc sa sâm, Mạch môn, Ngọc trúc, Tang bạch bì.
3/ Hàn ẩm nội phục, lại cảm hàn tà: đàm loãng nhiều, sợ lạnh là chủ yếu. Phương cơ bản gia Quế chi, Can khương, Tế tân, Ngũ vị tử.
② Hư chứng (giai đoạn lui bệnh)
Không dùng Ma hoàng.
1/Phế tỳ khí hư: biểu hiện khí đoản, tiếng nhỏ, lười nói, ăn uống kém, lưỡi nhạt rêu vàng. Phương cơ bản gia Hoàng kỳ, Đảng sâm, Bạch truật, Công lao diệp.
2/Khí âm lưỡng hư: biểu hiện khí đoản, lười nói, hồi hộp, lưỡi đỏ nhạt ít rêu. Phương cơ bản gia Hoàng kỳ, Đảng sâm, Sa sâm, Mạch môn, Đông trùng hạ thảo, Tiên hạc thảo.
3/Thận dương hư tổn: đặc trưng bởi sợ lạnh, tay chân lạnh, mạch trầm và yếu ở bộ xích. Phương cơ bản gia thêm Phụ phiến, Tử hà xa, Nhục quế, Tử thạch anh, Trầm hương.
4/Thận âm bất túc: đặc trưng bởi năm lòng tay chân phiền nhiệt, người gầy, khí đoản, lưỡi đỏ, ít rêu. Phương cơ bản gia thêm Sinh địa, Thục địa, Nữ trinh tử, Nhục đào, Ngũ vị tử, Trầm hương.
1/Phế hư vị thực: chứng khí hư phế tỳ kèm chướng hoặc đau dạ dày, đại tiện không thông. Trên cơ sở bài thuốc trị khí hư phế tỳ gia thêm Tô tử, Tô cành, Qua lâu, Bán hạ, Chỉ xác, Tam tiên.
2/Thận hư biểu thực: thận hư kèm cảm ngoại tà, trên cơ sở bài thuốc thận hư, nếu phế nhiệt gia thêm Ma hoàng, Hoàng cầm, Đình lịch tử; nếu phế táo gia thêm Sinh địa, Sa sâm, Mạch môn, Ngọc trúc; nếu phế có đàm ẩn gia thêm Can khương, Tế tân, Ngũ vị tử, Ma hoàng.
Vì sao nói điều trị hen suyễn quý ở chỗ giỏi biến hóa?
Đan Khê Tâm Pháp nói: (Vị phát nghi phù chính hí vi chủ, dĩ phát dụng dĩ công tà vi chủ)“Chưa phát nên chủ về phù chính khí, đã phát dùng phép công tà làm chính.” Đó là đại pháp điều trị hen suyễn, y gia đều biết. Nhưng bệnh hen phế quản thường phát tác đột ngột, diễn biến đa dạng, lúc hư lúc thực, lúc phát lúc lui, cho nên làm sao nắm đúng phép điều trị, khi nào nên công, khi nào nên bổ, khi nào hư thực kiêm trị, công bổ kiêm hành, thực không dễ dàng. Nếu có thể tùy theo diễn biến bệnh mà kịp thời ứng biến, thì hiệu quả điều trị lâm sàng sẽ nâng cao rõ rệt.
Vì sao nói “trị hen cần tuyên phế hóa đàm, phòng hen cần trị cả trong lẫn ngoài”?
(1) Trị hen trước tiên phải tuyên phế hóa đàm:
Nguyên nhân chủ yếu của chứng hen là “đàm ẩn” (Phục đàm) gây họa. Triệu chứng lâm sàng ngoài thở gấp, còn có đặc trưng là họng có tiếng rít, ngực tức, đàm khạc không thông v.v. Bệnh hen tái phát luôn có yếu tố kích phát, phần nhiều do ngoại tà dẫn động nội ẩm, đàm bít khí đạo, khiến vì đàm mà ho, vì ho mà hen, cho nên trị hen nhất định phải trừ đàm, mà trừ đàm trước tiên phải tuyên phế để đưa tà ra ngoài, tà ra đàm tan, hen tự lui. Nhưng ngoại tà có hàn nhiệt khác nhau, thuốc dùng cũng phải phân biệt ôn lương, lâm sàng cần biện chứng kỹ.
(2) Dùng Ma hoàng trị hen cần chú trọng phối ngẫu:
Ma hoàng là thuốc chủ yếu trị hen, lâm sàng cho thấy, dùng Ma hoàng trị hen phải biết phối hợp hợp lý. Hen hàn thì phối Quế chi, hen nhiệt thì phối Thạch cao, thanh phế thì phối Tang bạch bì, giáng khí thì phối Đình lịch, hóa đàm định suyễn thì thường phối Xạ can, lý khí khoan hung thì thường phối Hậu phác. Ma hoàng phối Đảng sâm để ích khí bình suyễn, phối Thục địa để bổ thận định suyễn, phối Sa sâm để dưỡng phế âm định suyễn, phối Phụ tử để ôn thận dương chỉ đàm suyễn.
(3) Phòng ngừa bệnh hen nên trị cả trong lẫn ngoài:
Thời kỳ yên ổn của bệnh hen nên điều trị dự phòng, thường dùng thuốc uống phối hợp với phương pháp dán ngoài, từng bước điều trị gốc, làm chính khí ngày càng đầy đủ, tăng khả năng chống bệnh, từ đó kiểm soát cơn hen.
1/Sâm cáp ma hạnh cao: Nhân sâm phơi khô 60g (nếu dùng Đảng sâm thì phải gấp đôi), Cáp giới bỏ đầu chân 2 cặp (nghiền bột hòa cao), Ma hoàng 30g, Hạnh nhân 100g, Cam thảo sao 50g, Sinh khương 60g, Táo đỏ bỏ hạt 120g, thịt Bạch quả 100g, sắc đặc 3 lần, bỏ bã lọc lấy nước trong, thêm đường phèn 500g nấu thành cao, mỗi sáng tối uống 1 thìa, hòa nước ấm.
2/ Thuốc hoàn: Hà xa đại tạo hoàn, Ngọc bình phong tán (dạng hoàn), Kim quỹ thận khí hoàn, Kim thủy lục quân hoàn, ngày uống 2 lần, mỗi lần 9g, uống lâu dài.
3/ Thuốc bột:① Nhân sâm (hoặc Đảng sâm gấp đôi), Cáp giới tán bột đều nhau, mỗi ngày uống 1,5g hòa mật ong.② Tử hà xa 2 cái sấy khô, tán bột cho vào viên nang, mỗi ngày uống 1–2g với nước ấm.
② Phương pháp dán ngoài:
Bạch giới tử dán: Bạch giới tử 12g, Diên hồ sách 12g, Tế tân 21g, Cam toại 12g, Xạ hương 0,15g, tất cả tán bột mịn, dùng nước gừng điều thành bánh tròn nhỏ để dán ngoài, chia 3 lần dùng vào mùa hè (tam phục), buổi trưa dán vào 3 huyệt Phế du, Cao hoang du, Đại chùy, mỗi lần dán khoảng 2 tiếng rồi bóc ra, 3 lần là 1 liệu trình, kiên trì vài năm sẽ có hiệu quả rõ.
Chia giai đoạn điều trị hen phế quản như thế nào?
Hen có thể phân thành mới – cũ, hư – thực. Hen mới, thực chứng thuộc về phế, có tà là thực; hen cũ, hư chứng thuộc về thận, không tà là hư. Ban đầu thường do cảm hàn mà phát, cần trị tiêu gấp. Trường hợp nhẹ dùng Bán hạ hậu phác thang gia giảm, nặng thì dùng Việt tì truật hạ thang gia giảm (gồm Ma hoàng, Sinh thạch cao, Bán hạ, Cam thảo sao, Bạch truật, Sinh khương, Đại táo, Hậu phác, Tế tân, Ngũ vị tử); Nếu đầy tức ngực bụng, dùng Hậu phác ma hoàng thang; Nếu đàm ẩm nặng, họng có tiếng đàm như gà nước, dùng Xạ can ma hoàng thang rất tốt; Nếu hàn bao hỏa, dùng thẳng Ma hạnh thạch cam thang hoặc Bạch quả định suyễn thang; nếu kèm bứt rứt, dùng Đại thanh long thang gia tăng lượng Thạch cao; Nếu biểu hàn lý ẩm, ho khạc đàm trắng có bọt, dùng Tiểu thanh long thang là phù hợp nhất. Trong các phương trên, nếu phối các vị Gừng (Can khương hoặc Sinh khương), Tân (Tế tân), Vị (Ngũ vị tử), thì ba vị thuốc này nhất định phải dùng liều bằng nhau. Nếu lo lắng Tế tân quá nhiều thì chỉ dùng liều nhỏ, hiệu quả sẽ giảm rõ rệt. Câu “Tân bất quá tiền” là chỉ liều Tế tân trong tán dược, còn trong thang thuốc phức hợp thì Tế tân có thể dùng 6–9g, chia uống 2–3 lần/ngày, thường không gây hại, ngược lại hiệu quả dứt bệnh rất rõ rệt.
Khi bước vào giai đoạn giữa của bệnh hen suyễn, vừa có hư vừa có thực, tức là bản hư tiêu thực, thì lúc này các bài thuốc như Tam áo thang, Đại – Tiểu thanh long thang, hay Xạ can ma hoàng thang đều không còn thích hợp; các phương thuốc hậu thế như Nhân sâm định suyễn thang, Nhân sâm ma hoàng thang đều là những bài thuốc vừa trị tiêu vừa trị bản, không bị ảnh hưởng bởi mùa vụ hay khí hậu. Nếu mạch ở bộ trên phù sác, còn bộ xích ở dưới lại tế, thì là chứng trên thực dưới hư, lấy hư ở dưới làm chính, phép trị nên đại bổ phế khí, nạp khí quy về thận, dùng phương dẫn xuất từ Toàn chân nhất khí thang: Nhân sâm 30–60g (hoặc Lộ Đảng sâm 60–90g), Thục địa 30g, Sơn thù nhục 12g, Mạch môn 15g, Ngũ vị tử 3g, Hoài ngưu tất 10g, Bạch giới tử 6g, Sinh khương 5 lát. Trong lâm sàng đã từng dùng phương này điều trị khỏi hoặc kiểm soát nhiều ca hen suyễn thể này ở thanh niên, như có một bệnh nhân nữ mới 20 tuổi, mắc hen phế quản 17 năm, sau hơn một tháng điều trị bằng bài thuốc trên đã kiểm soát được bệnh một cách rõ rệt. Nhân sâm dùng liều nhỏ thì tính hướng lên, liều lớn thì tính đi xuống; chứng bán hư bán thực dùng Nhân sâm định suyễn thang, phối Nhân sâm với Ma hoàng chính là với ý nghĩa đó. Giai đoạn sau của hen suyễn, khi đàm trào như suối, có thể dùng Quế phụ địa hoàng thang để ôn phế hóa ẩm, bổ hư hạ nguyên. Cơ thể suy hư lâu ngày thường do trung tiêu vận hóa mất chức năng, sinh đàm sinh dãi không dứt, nếu không kịp thời có biện pháp tương ứng thì chính khí càng suy, thận thủy bốc lên, hỏa long lôi bốc ngược, cuối cùng nguy hiểm đến tính mạng. Giai đoạn cuối hen suyễn mà phế – tỳ – thận đều hư, thì Nhân sâm và Thục địa vừa trị gốc vừa là thuốc hóa đàm thượng hạng. Bệnh lâu ngày phát suyễn cấp, dùng đuôi Cáp giới 0,2g tán bột uống, hiệu quả dứt cơn rất rõ. Bình thường mỗi ngày ăn 3–5 hạt óc chó sau bữa ăn cũng rất có ích trong điều trị suyễn hư. Sau khi kiểm soát được bệnh, có thể dùng bài Thận khí hoàn gia thêm Trầm hương, Ngũ vị tử để nạp khí quy căn; tiếp đó dùng phép trị đồng thời tỳ thận, sáng dùng Ngũ vị dị công tán hoặc Lục quân tử hoàn, tối dùng Vị khí hoàn để phù chính bồi bản, củng cố hiệu quả. “Ba phần điều trị, bảy phần điều dưỡng”, bệnh hen suyễn cũng không nằm ngoài nguyên lý ấy. Thứ nhất, phải biết điều nên điều tránh, phòng cảm mạo, để tránh ngoại tà dẫn động nội ẩm; người bị hen do đường hay do muối phải kiêng ăn đường, muối. Thứ hai, phải điều hòa lao – nhàn: Quá sức hay nằm lâu đều làm tổn khí, nên phải sinh hoạt điều độ; người bị hen lâu năm càng phải tiết dục để bảo vệ bản nguyên. Thứ ba, phải tiết chế ăn uống, lấy thanh đạm làm chủ, các món béo ngậy dễ sinh thấp nhiệt đều nên tiết chế.
Nhìn nhận như thế nào về chẩn trị hen suyễn?
(1)Biện hàn nhiệt để trị tiêu:
Khi hen suyễn phát tác cấp tính, việc cấp thiết là kiểm soát cơn hen, thường dùng Aminophylline, nhưng dùng lâu dễ giảm hiệu quả, nên cần phối hợp điều trị Đông – Tây y. Hen hàn đặc trưng bởi ngực tức đầy, đàm loãng, sợ lạnh chảy nước mũi, không khát hoặc khát thích uống nóng, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch phù khẩn – dùng Tiểu thanh long thang gia giảm. Nếu hàn tượng rõ rệt, gia thêm Xuyên khô phác 4,5–6g để tăng khả năng ôn phế tán hàn.
Hen nhiệt đặc trưng bởi thở gấp, ngực tức bứt rứt, khạc đàm vàng dính khó ra, khát nước thích uống lạnh, rêu vàng lưỡi đỏ, mạch hoạt sác kèm các biểu hiện nhiệt khác – dùng Định suyễn thang gia giảm. Trong đó, Ma hoàng là vị chủ yếu trị hen trong Trung y. Nếu ra nhiều mồ hôi thì đổi Ma hoàng thành Ma hoàng căn, hen nhiệt dùng Ma hoàng nhất định phải phối Hoàng cầm, Tang bạch bì, Xạ can để thanh phế lợi yết, bình suyễn, nhằm chế tính táo nhiệt của Ma hoàng. Trường hợp bệnh nhân cao huyết áp hoặc thể trạng yếu không thích hợp dùng Ma hoàng, có thể thay bằng lá Hoàng kinh tử. Hoàng kinh tử giỏi hành khí khu phong, trừ đàm giảm đau, dùng trị hen thường thay được Ma hoàng mà không có tác dụng phụ của nó. Bệnh nhân ngứa họng, hắt hơi, chảy mũi trong nhiều, ngoài dùng Ketotifen 200mg mỗi ngày, có thể phối thêm Tân di 4,5g, Thương nhĩ tử 9g, sẽ tăng hiệu quả kháng dị ứng và chống co thắt. Chữa ho hóa đàm dùng phối Tiền hồ 9g, Tử uyển 9g hoặc Cát cánh 4,5g, thanh nhiệt hóa đàm dùng Qua lâu 12g hoặc Trúc nhự 4,5g. Bệnh nhân ho liên tục là biểu hiện co thắt khí đạo tăng, có thể thêm Hồ thù du 9–15g để liễm phế chỉ khái. Bệnh nhân đàm nhiều khó khạc, cần lợi thủy bình suyễn, dùng Xa tiền thảo 9–15g để lợi thủy hóa đàm bình suyễn, nếu phối thêm Phòng kỷ 9g, Trần hồ lô 30g thì công dụng càng mạnh; thở gấp ho rít thì thêm Đình lịch tử 15g để tả phế lợi thủy bình suyễn.
(2) Bổ thận nguyên để bồi gốc: Phản ứng bất thường của khí đạo ở người bệnh hen suyễn quy vào thận hư. “Bổ thận bồi bản” để cải thiện thể chất, giảm mẫn cảm khí đạo là nguyên tắc quan trọng trong điều trị bệnh nhân hen ở giai đoạn ổn định.
(3) Đổi mới pháp để cầu hiệu: Trung y trị hen chủ yếu theo phế – tỳ – thận luận trị. Nhưng chung quy hen không rời khí, mà can là trục điều tiết khí cơ toàn thân, do đó nếu chính trị không hiệu, thường thấy hiệu quả từ phép sơ can. Dùng phép thông phủ tả nhiệt để trị hen cũng thích hợp với các ca hen dai dẳng. Ngoài ra, đáng lưu ý là vận dụng Nhân trần và Hoắc hương trong phòng trị hen, đặc biệt thích hợp cho người có ngực tức bứt rứt, ăn uống kém.
Làm sao điều trị hen suyễn do hàn đàm?
Hen suyễn phát tác dữ dội phần nhiều là do hàn đàm ngưng đọng, khí cơ mất điều hòa, dùng bài Ma hoàng phụ tử tế tân thang thường cho hiệu quả tức thì, Phụ tử ôn thận tán hàn, Ma hoàng tuyên phế bình suyễn, hai vị phối hợp hỗ trợ lẫn nhau, Ma hoàng nhờ có Phụ tử mà bình suyễn không tổn chính khí, Phụ tử lại có thể chế tính tân tán của Ma hoàng; trị hen thiên về hàn thịnh, hai vị thuốc này rất hợp dụng. Tế tân thông dương bình suyễn, khi suyễn thở gấp nặng thì không thể thiếu, liều phải dùng nhiều, thường dùng 4,5g, nếu cơn nặng có thể dùng đến 9g trở lên. Trong lâm sàng từng gặp hen suyễn mãn tính dai dẳng, dùng lượng lớn hormon không có hiệu quả, bệnh nhân ngồi thở suốt ngày đêm, chỉ một thang Ma hoàng phụ tử tế tân thang đã làm dịu. Hen suyễn là bệnh trầm kha, dai dẳng tái phát, chính khí suy tổn, tinh khí bị thương, triệu chứng phức tạp xen lẫn, nhưng rốt cuộc phần nhiều là hàn đàm kết tụ bên trong, dùng Phụ tử, Ma hoàng phối Tế tân như ánh dương rọi rọi, âm hàn tự hóa, có thể làm suyễn giảm, đàm bớt. Dù có lưỡi hơi đỏ, tân dịch không đủ, nhưng về thực chất là do hàn tụ làm gốc, sau khi dùng Ma hoàng – Phụ tử, dương khí phục hồi, tân dịch lên được, sắc lưỡi trở lại nhu nhuận, vì vậy trị hen suyễn không nên câu nệ hình thức. Sinh bán hạ có tác dụng hóa đàm rõ rệt, trị hen suyễn cũng có thể dùng, thường dùng 9g, gia sinh khương 2 lát, không có tác dụng phụ. Bột Thủy điệt có thể cải thiện tình trạng thiếu oxy, mỗi lần uống 1,5g, ngày 2 lần, hiệu quả rõ rệt. Phòng ngừa hen suyễn, quan điểm “đông bệnh hạ trị” của y học cổ truyền rất có ý nghĩa lâm sàng, vào mùa hè nên khuyên bệnh nhân hen lâu ngày dùng bài Linh quế truật cam thang, mỗi ngày 1 thang, uống liên tục 1 tháng có thể giảm hoặc không phát bệnh, đây là biện pháp đáng áp dụng.
Cách điều trị hen suyễn do hàn đàm: Hen suyễn phát tác dữ dội phần lớn do hàn đàm ngưng trệ khiến khí cơ mất điều hòa, dùng bài Ma hoàng phụ tử tế tân thang thường cho hiệu quả tức thì. Phụ tử có tác dụng ôn thận tán hàn, Ma hoàng có tác dụng tuyên phế bình suyễn, hai vị hỗ trợ lẫn nhau, Ma hoàng nhờ có Phụ tử nên bình suyễn mà không tổn chính khí, Phụ tử lại có thể điều tiết tính tân tán của Ma hoàng. Với hen suyễn thiên về hàn thịnh, hai vị này rất thích hợp sử dụng. Tế tân có công năng thông dương bình suyễn, khi cơn suyễn nặng thì không thể thiếu, liều dùng cần tăng, thông thường dùng 4,5g, trường hợp suyễn dữ dội có thể dùng tới 9g trở lên. Trong lâm sàng từng thấy nhiều trường hợp hen suyễn mãn tính khó trị, dùng nhiều hormon không hiệu quả, bệnh nhân phải ngồi thở cả ngày lẫn đêm, chỉ một thang Ma hoàng phụ tử tế tân thang là có thể ổn định. Hen suyễn là bệnh trầm kha, dai dẳng tái phát, chính khí suy tổn, tinh khí bị thương, triệu chứng chồng chéo, nhưng đa phần do hàn đàm âm tà kết tụ bên trong, dùng Phụ tử, Ma hoàng phối hợp Tế tân như ánh nắng soi rọi, âm tà tự tiêu tan, có thể làm suyễn dịu, đàm bớt. Dù có khi lưỡi hơi đỏ, tân dịch không đầy đủ, nhưng bản chất vẫn là hàn ngưng làm gốc, sau khi dùng Ma hoàng – Phụ tử, dương khí phục hồi, tân dịch được dẫn lên, sắc lưỡi trở nên nhuận đỏ, do đó khi trị hen không nên quá câu nệ hình thức. Sinh bán hạ có năng lực hóa đàm rõ rệt, trị hen suyễn cũng có thể dùng, thông thường dùng 9g, phối thêm 2 lát sinh khương, không gây tác dụng phụ. Bột thủy điệt có thể cải thiện tình trạng thiếu oxy, mỗi lần uống 1,5g, ngày dùng 2 lần, hiệu quả rõ rệt. Về mặt phòng ngừa hen, lý luận “đông bệnh hạ trị” của y học cổ truyền rất có giá trị thực tiễn, vào mùa hè nên khuyên bệnh nhân hen lâu ngày uống Linh quế truật cam thang, mỗi ngày 1 thang, uống liên tục 1 tháng, có thể giảm tần suất phát tác hoặc không phát tác nữa, phương pháp này rất đáng áp dụng.
Vì sao nói “trị hen suyễn cần biện hư thực, trọng trị đàm, nên phối hợp kháng dị ứng”? (1) Dựa vào phát tác hay thuyên giảm để phân biệt hư thực, chú trọng đến tỳ thận. Cơ chế bệnh hen tuy phức tạp, biểu hiện tuy nhiều, nhưng bệnh vị không ngoài phế. Nên căn cứ vào đặc điểm phát tác và hoãn giải xen kẽ của bệnh để phân biệt, như khi hen phát ra với tiếng thở rít như cưa, không thể nằm được, bất kể bệnh mới hay lâu đều trị theo thực chứng. Nếu bệnh nhân thường do cảm lạnh mà phát, hoặc làm động nội đàm tiềm phục, hoặc vốn thể chất uất nhiệt mà lại cảm ngoại tà, khiến đàm trệ khí nghịch thì trị nên giải biểu lý song hành, nội ngoại kiêm cố. Thuộc chứng ngoại hàn nội ẩm, thường dùng Tiểu thanh long thang hoặc Xạ can ma hoàng thang gia giảm, để tán phong hàn ở biểu, hóa đàm ẩm ở lý; thuộc chứng ngoại hàn nội nhiệt thường dùng Ma hạnh thạch cam thang gia vị, để tuyên tả phế nhiệt, hóa đàm bình suyễn. Ma hoàng là vị thuốc chủ yếu mà Trương Trọng Cảnh dùng trị chứng thực ở phế gây suyễn, nếu bệnh nhân bứt rứt có thể phối Thạch cao sống, Bạch thược, Ngũ vị tử; đàm nhiều thì thêm Tô tử, Hóa cúc hồng; ngực đầy thì thêm Hậu phác, Trần bì, lúc này cần thận trọng khi dùng các vị thuốc liễm nhuận, tránh “đóng cửa giữ giặc”. Sau khi hen giảm thường là thuộc chứng hư, nhưng bệnh vị có thể ở phế, tỳ, thận: phế là chủ khí, thận là gốc khí, phế chủ xuất khí, thận chủ nạp khí, tỳ ở trung tiêu là nguồn sinh đàm, hen lâu ngày tất liên lụy đến tỳ thận, nên phải bổ tỳ thận để củng cố gốc, định suyễn, mong dứt căn bệnh. Nếu vệ phế không cố, bì phu lỏng lẻo, dễ bị ngoại cảm mà phát suyễn thì thường dùng Thăng hãm thang hoặc Sinh mạch tán gia vị để bổ khí âm, cố vệ biểu. Nếu tỳ không kiện vận, sinh đàm thấp bên trong, ăn uống kém, đại tiện lỏng thì dùng Hương sa lục quân tử thang hoặc Sâm linh bạch truật tán để kiện tỳ hóa đàm, bồi thổ sinh kim. Nếu thận thất nhiếp nạp, thở ra nhiều hít vào ít, chân tay lạnh, phù nề thì dùng Chân vũ thang hoặc Quế chi phụ tử địa hoàng thang, Thất vị đô khí hoàn để ôn thận nạp khí, bổ hạ nguyên. Vì đây là bệnh trầm kha, trên cơ sở các bài chủ phương nên phối thêm Bổ cốt chỉ, Hồ đào nhục, Thỏ ty tử, Tử hà xa, Đại cáp giới v.v. là các thuốc nạp khí, định suyễn, chế thành mật hoàn để uống lâu dài nhằm đạt hiệu quả chậm nhưng vững chắc.
(2) Trị đàm là then chốt, điều hòa khí cơ:
Trị suyễn mà không trị đàm thì chưa phải là phép trị đúng, bởi đàm trọc, thủy ẩm ẩn trong phế là yếu tố tiềm ẩn khiến hen suyễn tái phát nhiều lần — đó chính là “lưu ẩm”, “phục ẩm” mà Kim Quỹ Yếu Lược đã nhắc đến, hay gọi theo hậu thế là “đàm trong bao nang”. Đàm trọc thủy ẩm lâu ngày chiếm cứ phế tạng, mỗi khi bị cảm hàn, ăn uống thất thường, lao lực, hay cảm xúc biến động sẽ phát khởi, làm khí đạo bị bế tắc, biểu hiện lâm sàng là đàm dãi đầy ứ, đặc dính khó khạc, ngực đầy tức, ăn kém, táo bón, rêu lưỡi nhớt, mạch hoạt… khi đó nên dùng Ngũ tử định suyễn thang gia giảm.
Bài thuốc này lấy Tam tử dưỡng thân thang (chủ trị tiêu đàm giáng khí) làm nền, gia hạnh nhân để tuyên phế bình suyễn, đình lịch tử để tả phế lợi thủy, một bên tuyên một bên tả, giúp khí cơ lưu thông thì suyễn tự ổn, nhưng chỉ nên dùng khi không có ngoại tà biểu chứng, nếu là phong hàn túc phế thì không nên dùng. Nếu kèm ho thì gia tiền hồ, bạch tiền, tử uyển, khoản đông hoa; kèm ăn uống kém thì gia xương bồ, bội lan diệp; kèm ngực đầy thì gia hậu phác, trần bì; kèm táo bón thì gia qua lâu, tỏi trắng.
Hen suyễn do đàm trọc bế phế là chủ yếu, nhưng do khí nghịch của phế vị hoặc can khí uất hóa hỏa gây nên cũng không ít. Khi điều trị cần coi trọng điều hòa khí cơ trong cơ thể, như cổ nhân nói “khí thuận thì đàm dãi trong toàn thân tự tiêu”, do đó ngoài tuyên phế, túc phế còn cần lấy giáng vị khí và sơ can khí làm chủ để trị suyễn. Có thể dùng riêng để trị hen do phế vị khí nghịch, vì toàn phúc hoa, đại giả thạch có công năng trấn suyễn, giáng nghịch, bán hạ, sinh khương lại có công năng hòa vị hóa đàm, tương hỗ lẫn nhau.
Còn với những trường hợp do căng thẳng thần kinh hoặc cảm xúc không thoải mái, can khí uất hóa hỏa phạm phế gây suyễn, thường dùng Tiêu dao tán gia đan bì, hoàng cầm, địa long, câu đằng, hạnh nhân, tang bạch bì v.v… để bình suyễn giải co thắt, tuyên phế chỉ khái, trong đó hàm ý điều hòa khí cơ, khí thuận thì đàm tự tiêu.
(3) Lấy chống dị ứng làm đặc điểm, phối hợp hoạt huyết:
Hen suyễn điển hình có tính mùa liên quan mật thiết đến yếu tố dị ứng, người bệnh do thể chất đặc biệt, khi tiếp xúc với các dị nguyên như phấn hoa, mạt bụi, thuốc… dễ gây co thắt cơ trơn phế quản và lòng ống khí bị hẹp, dẫn đến phát tác cơn hen, nên còn gọi là hen dị ứng. Bệnh thường gặp ở trẻ em hoặc thanh thiếu niên, cần biện chứng luận trị, thường dùng bài Kháng mẫn tiễn làm phương nghiệm để chống dị ứng, giải co thắt, bình suyễn chỉ khái.
Trong bài, ngân sài hồ vị ngọt tính hàn, ích âm lương huyết, thanh nhiệt; phòng phong cay ấm, khu phong giải biểu; ô mai chua chát hóa âm, sinh tân; ngũ vị tử chua ấm, liễm phế ích thận; sinh cam thảo điều hòa các vị thuốc, với bệnh nhân dị ứng do huyết táo nhiễm phong thì hiệu quả rõ rệt.
Một số bệnh nhân hen được y học hiện đại chẩn đoán là khí phế thũng, bệnh tim phổi, xơ hóa mô kẽ phổi hoặc suy tim mạn, bệnh kéo dài, sắc mặt tối xám, môi và móng tay tím, tĩnh mạch cổ nổi, lưỡi tím tối hoặc có ban ứ huyết, chấm ứ huyết — biểu hiện của khí hư huyết ứ. Vì phế chủ khí, giúp tâm vận hành huyết mạch, bệnh phế lâu ngày, tông khí không đủ, không đủ lực hành huyết thì huyết mạch bị ứ trệ. Nên dùng phép hoạt huyết hóa ứ để điều trị, tùy chứng mà gia đương quy, xuyên khung, đan sâm; trong đó xuyên khung hành khí phần trên, đương quy hành huyết phần dưới, đan sâm hoạt huyết toàn thân. Trường hợp huyết ứ nghiêm trọng có thể dùng Đào hồng tứ vật thang, để hoạt huyết hóa ứ trị phần ngọn, phối hợp với ích khí dưỡng âm cố bản. Phép chữa này cân nhắc từ biểu đến lý, từ khí đến huyết, thường hiệu quả hơn so với phép đơn thuần bổ khí.
Đặc điểm phương thuốc điều trị hen suyễn là gì?
Hen phế quản là bệnh biến của tạng phế và tạng tỳ, do ngoại nhân dẫn phát, phế mất túc giáng, tỳ mất kiện vận, đàm khí tương kết, bế tắc khí đạo mà thành “tiếng khò khè – 哮”; còn “suyễn – 喘” là do biến ở phế và thận, phế mất tuyên giáng, thận không nạp khí, tâm khí hư tổn mà gây suyễn, nên “khò khè” và “suyễn” thường đồng thời phát sinh.
Hen trẻ em ngoài thể chất yếu, ngoại tà xâm phế, còn chủ yếu do phế và tỳ bị tà xâm nhập. Như sách Xích thủy huyền châu đã nói: “Có trẻ từ bé ăn đồ chua mặn, làm tổn thương tỳ hoặc phế, khiến đàm tích tụ ở khí đạo, lâu ngày sinh nhiệt, cản trở thăng giáng, hình thành chứng hen”. Qua đó cho thấy cơ chế bệnh sinh của hen trẻ em chủ yếu là do phế tỳ và đàm thực biến hóa mà ra.
Trên lâm sàng có thể thấy: hen thường kiêm ho, suyễn thường kiêm phù — đều do phế mất tuyên túc, nặng hơn còn liên lụy đến tâm, do đó bệnh tại phế tỳ thường là thực chứng, còn bệnh tại phế thận thì thường là hư chứng.
Trong giai đoạn phát tác của hen suyễn thường lấy tà thực làm chính, phép trị cần lấy công tà làm chủ, lâm sàng cần biện biệt hàn – nhiệt – đàm – thấp để xử trí thích đáng. Nếu do hàn tà gây nên, biểu hiện: thở gấp, trong họng có tiếng khò khè, đàm nhiều, loãng và trong, ngực đầy tức, sợ lạnh, sắc mặt xám tối hoặc trắng xanh, thích uống ấm, uống vào thì ngừng, miệng lạnh, hơi thở lạnh, mạch phù khẩn, lưỡi trắng nhuận. Trị nên ôn phế tán hàn, khu đàm thông khiếu, dùng bài Lãnh hiếu ẩm tự soạn, gồm: ma hoàng, quế chi, phục linh, bán hạ, trần bì, cam thảo sao, chỉ xác, tô tử, bạch giới tử, đông hoa, sinh thông bạch, đạm đậu xị. Nếu hen kiêm nôn ọe, là do phong hàn phạm phế, thủy ẩm đình tụ bên trong, có thể dùng Tiểu thanh long thang gia tô tử, khoản đông hoa, bạch giới tử trị.
Nếu là nhiệt tà gây nên, thì thở gấp, khí thô, đàm dính khó khạc, mặt đỏ đổ mồ hôi, ngực đau đầy tức, thậm chí khát, táo bón, tiểu ngắn sẫm, lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng nhớt, mạch trầm sác hoặc hồng sác. Trị nên thanh nhiệt tuyên phế, hóa đàm định suyễn. Dùng bài Thanh nhiệt bình suyễn thang tự soạn, gồm: Tang bạch bì, ma hoàng, đông hoa, xuyên bối mẫu, lai phục tử, toàn qua lâu, bán hạ, hoàng liên, xạ can, hạnh nhân, cam thảo.
Sau khi cơn hen đã ngừng, nhiệt lui, có thể dùng bài Định suyễn thang trong Thiên kim phương gia tử uyển, đởm tinh, uống dài ngày 20–30 thang, giúp phế thanh túc, trừ gốc phát bệnh hen suyễn.
Trường hợp do hỏa nhiệt gây suyễn, biểu hiện: Thở gấp, thở ngắn, ho, đàm đặc vàng, thậm chí không có đàm hoặc có mà khó khạc, mồ hôi ra nhiều, khát nước, sốt cao không lui — do tà hỏa uất kết trong phế, khí phế căng đầy, bệnh thế cấp bách, cần tả hỏa thanh phế, tả nhiệt bình suyễn. Dùng bài Phế viêm thanh giải thang tự soạn, gồm: bạch linh dương, thanh thiên quỳ, sinh thạch cao, ma hoàng, hạnh nhân, tang bạch bì, địa cốt bì, liên kiều, mạch môn, lai phục tử, tri mẫu, cam thảo. Nếu sốt cao tổn thương tân dịch thì gia tây dương sâm, mạch môn; nếu thấy có biểu hiện suy tim, có thể gia Sinh mạch tán.
Nếu là chứng thực do thấp đàm gây suyễn, biểu hiện: Suyễn kiêm ho, đàm nhiều, dính nhớt, khó khạc, ngực đầy tức. Đây là do thấp tích sinh đàm, hoặc thể chất thiên về đàm thấp, tích tụ lâu ngày khiến phế bị đàm bế, mất thanh túc. Rêu lưỡi trắng nhớt hoặc dơ bẩn, mạch phần nhiều hoạt hoặc nhu. Điều trị nên trừ đàm túc phế, thuận khí bình suyễn. Dùng bài Tô quất nhị trần thang tự soạn: Tô tử, quất hồng, bán hạ, trần bì, phục linh, chỉ xác, tiền hồ, hậu phác, bạch giới tử, cam thảo sao, sinh khương. Nếu kiêm phong đàm thì gia chế nam tinh; Nếu hóa nhiệt thì gia sơn chi, hoàng liên, lâu bì nhân, xuyên như. Trường hợp hen suyễn kéo dài, thể chất khá mạnh, thường dùng Tạo giáp hoàn: hắc sửu, bạch sửu mỗi vị 3g; tạo giáp, tử uyển, cam thảo, tang bạch bì, thạch xương bồ, bán hạ mỗi vị 6g; đởm tinh 5g, bách bộ 6g — tán mịn thành bột, luyện mật làm hoàn (to bằng hạt đậu xanh), mỗi lần uống 30 viên, ngày 2 lần, với nước ấm. Bài này có hiệu quả nhất định đối với hen suyễn lâu ngày không khỏi.
Sách “Nguyên lý” viết: “Hư suyễn là do không có thực tà, mà nguyên khí bị hư”; lại nói: “Hư là khí suy, hơi thở yếu, phần nhiều do nội thương. Phép trị hư là bổ bằng ngọt ấm.”
Biện chứng của hư suyễn phần nhiều là phế hư hoặc thận hư. Lại vì tâm thận đồng nguyên, phế thận cùng hư dễ dẫn đến tâm dương bất túc, hình thành tâm thận hư, gây triệu chứng thở gấp.
Nếu phế hư gây suyễn, biểu hiện: thở gấp gấp, hơi ngắn, nói yếu, mệt mỏi buồn ngủ, ăn uống kém, ra mồ hôi hoặc sợ gió. Trị bằng bài Hư suyễn ninh phế thang tự soạn: bạch thược, hoàng kỳ, nhân sâm, cam thảo, phục linh, đương quy, ngũ vị tử, a giao, bán hạ, trầm hương.
Trường hợp phế hư gây hen, thậm chí mặt phù quanh mắt, bài này vẫn có thể dùng được. Nếu thận hư gây suyễn, biểu hiện: thở gấp đứt quãng, hoạt động thì khó thở, có tiếng đàm khò khè, hồi hộp, mặt xanh tái hoặc tím môi, tay chân sợ lạnh, phù. Đây là chứng thận dương hư suy, thận khí không nạp, trị nên ôn thận tráng dương, nạp khí bình suyễn. Dùng bài Gia vị nhân sâm cáp giải tán tự soạn: Nhân sâm, cam thảo sao mỗi vị 10g cáp giới 2 đôi ngũ vị tử, bổ cốt chỉ, trầm hương, thạch xương bồ, bạch truật mỗi vị 30g
đào nhân, trạch tả mỗi vị 60g xuân sa nhân 25g hoàng kỳ 45g tế tân 20g Chế biến: trừ nhân sâm, trầm hương thì để riêng, còn lại tẩm nước muối, hấp với cám gạo, tán bột, cất vào lọ kín. Mỗi lần dùng 6g, uống với nước ấm, đến khi cơn suyễn dịu thì ngưng.
Chứng này cũng có thể dùng Tô tử giáng khí thang gia cáp giới, hải mã, tử hà xa để trị. Cáp giới bổ phế khí, trợ thận dương, định suyễn giảm ho, ích tinh huyết; hải mã bổ thận tráng dương, điều khí hoạt huyết — đều là dược vật bổ dưỡng giàu khí huyết. Ôn bổ thận dương, bồi bổ Kỳ – Đốc, nuôi dưỡng tinh huyết bên trong cơ thể, trừ đàm ứ trệ, bên trong làm ấm nhu hòa tạng phủ, bên ngoài thì chỉ khái bình suyễn, khu đàm hóa ẩm; đối với hen suyễn do phế thận dương hư thì hiệu quả rất nhanh, do đó là phương thuốc không thể thiếu để trị chứng hư suyễn. Nếu do tâm dương hư suy dẫn đến hen suyễn, biểu hiện thở khó, suyễn kèm hồi hộp, tinh thần mỏi mệt, đó là do tâm dương bất túc, nguyên khí tổn hao nghiêm trọng, thận khí nghịch lên mà gây nên. Trị nên cường tâm ôn dương, trợ nguyên trấn suyễn, thường dùng Đại tễ Cam thảo thang sao phối hợp uống cùng Hắc thi đan, khi khí suyễn tạm ổn thì chuyển sang Chân vũ thang hoặc bài Tham kỳ tiếp chân thang tự soạn, gồm: nhân sâm, hoàng kỳ, cố chỉ, quế chi, cam thảo sao, a giao, từ thạch, mẫu lệ, ngũ vị tử.
Đối với điều trị giai đoạn hoãn giải của hen suyễn, nên phò chính bồi bản, căn cứ theo lý luận trong Hoàng Đế Nội Kinh: “Xuân hạ dưỡng dương, thu đông dưỡng âm, thuận theo gốc rễ của nó”.
Vào mùa xuân – hè thì dùng phép dưỡng dương, cho uống Sâm cáp tán để phò dương, tráng thận, hoặc dùng Sâm linh bạch truật tán gia cáp giới, hải mã để ôn bổ tỳ dương. Vào mùa thu – đông, nên dưỡng âm phế thận, dùng Lục vị địa hoàng hoàn gia tô tử, trầm hương, ngũ vị tử để trị liệu. Trong giai đoạn hoãn giải của hen suyễn thường có hư trung kiêm thực, có thể dùng Lục quân tử thang hợp Tam tử dưỡng thân thang gia tử uyển, khoản đông hoa uống lâu dài, nhằm đạt hiệu quả phò chính khu tà.
Phép bổ thận ích phế trị hen suyễn như thế nào?
(1) Bệnh nhân hen suyễn – nguyên nhân và cơ chế bệnh: Hen suyễn phát bệnh phần nhiều do lạnh, cảm mạo, sau đó là ngửi mùi lạ, lao lực, v.v… Cơ chế bệnh lý chủ yếu là phế thận lưỡng hư.
Phế chủ khí, quản hô hấp, là trung tâm của cơ chế khí cơ thăng giáng xuất nhập. Nếu bị phong hàn xâm nhập hoặc hít phải mùi lạ, làm phế mất chức năng túc giáng, khí phế nghịch lên gây ra suyễn. Suyễn lâu ngày, phế khí hư, dẫn đến khí cơ thăng giáng thất điều, hơi thở dồn dập, thở ngắn, thậm chí há miệng, nhấc vai, cánh mũi động đậy, môi và móng tay tím tái, hồi hộp, thở hụt, tâm dương bị đẩy ra ngoài gây ra mồ hôi. Thận chủ nạp khí, là gốc của nguyên khí. Hen suyễn kéo dài tổn thương đến thận, thận khí tổn hại, không thể thu nạp, khí không hồi quy về nguyên, nghịch lên đẩy phế, dẫn đến thở ra nhiều, hít vào ít, động thì khó thở rõ rệt.
Hơi thở ngắt quãng, ngồi thở không thể nằm, chính là điểm then chốt biện chứng phế thận lưỡng hư. Do đó, phép trị nên điều bổ phế thận, phò chính khu tà làm chủ. Theo bệnh lý học Trung y, trong tác động của tà khí, mất cân bằng sinh lý của cơ thể là yếu tố chính dẫn đến bệnh phát sinh.“Chính khí tồn nội, tà bất khả can” (Chính khí còn thì tà không xâm nhập được).“Tà chi sở tấu, kỳ khí tất hư” (Nơi tà tích tụ, tất có khí hư). Là nhận thức cơ bản của y học cổ truyền về cơ chế phát bệnh. Người bệnh hen suyễn phần nhiều là thể chất vốn hư, bệnh kéo dài khiến chính khí hư suy. Do đó, lấy phò chính làm chính, cải thiện thể chất là phương pháp điều trị chủ yếu. Đồng thời chú trọng đến việc điều hòa khí cơ, hóa đàm, hành ứ. Khí cơ thăng giáng xuất nhập của phế là một phần quan trọng trong hoạt động khí cơ của toàn thân. Vương Mạnh Anh nói:
“Phế bị bệnh, khí toàn thân đều mất chức năng thuận giáng”. Từ lâm sàng cho thấy, người bệnh hen đều có tức ngực ở các mức độ khác nhau, do đó điều hòa khí cơ, điều thuận phế thận là nội dung trọng yếu trong điều trị hen. Hơn nữa, sự sinh ra của đàm và ứ đều liên quan mật thiết đến khí cơ không thông, vì vậy phép điều bổ phế thận ẩn chứa ý nghĩa điều hòa khí cơ, lại có tác dụng hóa đàm hành ứ, cải thiện vi tuần hoàn để đạt được mục đích bình suyễn — chính là phò chính mà ẩn chứa khu tà.
(2) Phương thuốc bổ thận ích phế bình suyễn:
Thành phần bài thuốc: Thái tử sâm, mạch môn, ngũ vị tử, trần bì, bán hạ chế với gừng, tô tử sao, ô mai, địa long, từ thạch, bổ cốt chỉ, tử hà xa (nhau thai), đào nhân. Gia giảm tùy chứng: Khí hư nhiều: gia hoàng kỳ; Âm hư: gia sa sâm, sinh địa; Dương hư: gia phụ tử, nhục quế; Huyết ứ: gia đan sâm, xuyên khung; Ho nhiều, đàm nhiều: gia qua lâu nhân, xuyên bối mẫu. Cơ sở bài thuốc dựa trên Sinh mạch ẩm trong “Nội ngoại thương biện hoặc luận” gia giảm, nhằm tư bổ phế thận, bổ ích khí âm. Thái tử sâm thay cho nhân sâm để tránh tính táo. Mạch môn dưỡng âm nhuận phế, ích vị sinh tân. Ngũ vị tử là vị thuốc chủ yếu bổ cả phế thận, có tác dụng liễm phế, tư thận, sinh tân, thu mồ hôi, sáp tinh. Tôn Tư Mạc nói: “Ở trên thì dưỡng nguồn, ở dưới thì bổ thận”, thật là yếu dược song bổ phế thận. Trần bì, bán hạ lý khí hòa vị, hóa đàm chỉ khái; Tô tử giáng khí tiêu đàm; Địa long thông lạc, giải co thắt; Ô mai tính ôn chua, vào phế thận, có thể thu liễm khí phế, “trị ho lâu ngày”, “hấp khí quy nguyên”, phối với Sinh mạch tán để thu khí phế, nạp khí thận; Tử hà xa đại bổ nguyên khí mà không táo, có thể bổ âm dương song hành, có nhiều báo cáo điều trị hen hiệu quả; Từ thạch tân hàm mà bình, vào kinh phế – thận, có thể “nạp khí bình suyễn”
Bổ cốt chỉ tân ôn, vào thận trợ dương, khiến cho thận thủy không hàn, hơi nước bốc lên, phế khí được thừa hưởng, trị chứng thận hư khái suyễn, từ cổ chí kim đều được các danh y yêu thích sử dụng.
Trong phương, đào nhân (桃仁) hoạt huyết hành ứ, nhuận trường, giúp khí phế lưu thông, bổ mà không trệ; xét toàn phương thì lấy điều bổ phế thận làm chủ, kiêm cố tỳ vị, bổ cả âm dương, lại có hiệu quả hóa đàm, lý khí, hành huyết, giúp chính khí dần dần sung mãn, khí phế điều hòa, khí thuận đàm tan, suyễn có thể bình; hơn nữa, toàn phương tính vị bình hòa, bổ mà không táo, dưỡng mà không ngấy, thích hợp dùng lâu dài. (3) Trị ẩn trong phòng, phòng lồng trong trị: đối với điều trị hen suyễn, “phát tác trị tiêu, thuyên giảm trị bản” là nguyên tắc được nhiều y gia tôn sùng, đây là phép trị đúng đắn đối với loại hen suyễn kịch phát; tuy nhiên, quan sát các thuốc bình suyễn trị tiêu theo truyền thống, thường là các vị tân ôn như ma hoàng, tế tân, hoặc hàn liệt như đình lịch, tang bì…, đều dễ tổn hao chính khí, khó đạt được mục đích điều trị căn bản của hen suyễn; nhất là đối với người bệnh hen suyễn kéo dài, phát tác nhiều lần, chính khí vốn đã hư, nếu lại dùng vị tân tán hàn liệt thì chẳng khác gì phạm vào cấm kỵ “hư càng hư”; vì vậy, xét về ý nghĩa điều trị, việc giảm số lần phát tác còn quan trọng hơn là chỉ trị lúc phát, tức là lúc nào cũng phải ghi nhớ việc phù chính khí; tóm lại, điều trị hen suyễn trong giai đoạn phát nên tránh dùng các vị hao tân tổn khí, dù ở giai đoạn phát hay giai đoạn thuyên giảm cũng cần trị tiêu lẫn bản, phù chính khu tà, và phải xuyên suốt tinh thần này trong suốt quá trình trị liệu.
Kinh nghiệm lâm sàng trong điều trị hen phế quản gồm: (1) Hàn suyễn: do thể chất dương hư, khí không hóa tân, đàm ẩm nội đình, thường gặp khi bị phong hàn xâm nhập, vào hệ thống phế, tà khí tích lại gây khí tắc, đàm tắc mà phát ra hàn suyễn. Triệu chứng: sợ lạnh, không ra mồ hôi, đau đầu đau mình, thở gấp, tiếng thở khò khè, đàm loãng trong nhiều bọt, ngực tức bít, nặng thì môi tím, không nằm được, không khát nước, rêu lưỡi trắng trơn, mạch phù khẩn. Phần nhiều do phong hàn phạm biểu, bì mao khai hợp thất thường khiến phế khí uất, cần gấp rút tuyên thông phế khí, hóa đàm bình suyễn. Đầu tay dùng Hoa cái thang (ma hoàng, tử tô tử, hạnh nhân, sinh tang bì, xích phục linh, trần bì, cam thảo). Nếu có đàm ứ bên trong, phong hàn bên ngoài dẫn phát, thấy ho nghịch khí nghẹn, cổ họng như tiếng ếch kêu thì dùng Xạ can ma hoàng thang trong Kim Quỹ yếu lược (xạ can, ma hoàng, sinh khương, tế tân, tử uyển, khoản đông hoa, ngũ vị tử, đại táo, bán hạ) để tán hàn tuyên phế, giáng nghịch hóa đàm. Nếu khí nghịch chưa bình, có thể hợp dùng Tam tử dưỡng thân thang (tô tử, lai phục tử, bạch giới tử) để tăng cường hiệu quả giáng khí bình suyễn. Khi hàn tà đã giải, khí cơ chưa thông mà tiếng thở vẫn gấp thì dùng Tô tử giáng khí thang (tô tử, chỉ nhân, bán hạ, đương quy, tiền hồ, hậu phác, nhục quế hoặc trầm hương, cam thảo, sinh khương), khí thuận thì hen suyễn tự bình.
(2) Nhiệt suyễn: do ăn uống không điều độ, ăn nhiều đồ béo ngọt, tích thấp sinh nhiệt, hun bốc lên phế, hoặc hàn ẩm lâu ngày hóa nhiệt, luyện tân thành đàm, đàm nhiệt ứ trệ ở phế, dễ bị ngoại cảm dẫn phát. Triệu chứng: thở gấp, tiếng đàm khò khè, ho rũ rượi thành cơn, đàm đục dính vàng khó khạc, mặt đỏ, ra mồ hôi, phiền táo bất an, khát nước thích uống, tiểu vàng táo bón, lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch hoạt sác. Thường do đàm nhiệt bên trong, ngoại cảm phong hàn kìm giữ hoặc hàn ủ thành nhiệt. Nếu kèm sợ gió lạnh thì dùng Thiên kim định suyễn thang (cam thảo sao, bạch quả, sinh tang bì, khoản đông hoa, hạnh nhân, tô tử, hoàng cầm, cam thảo, bán hạ, trần bì). Nếu do phế vị tích nhiệt, đàm nhiệt nội ứ, bị phong nhiệt ngoại cảm dẫn phát thì dùng Ma hạnh thạch cam thang gia hoàng cầm, qua lâu, chiết bối, tang bì. Nếu do đàm đục nghẽn ở phế mà phát thì dùng Thiên kim vĩ kinh thang hợp Đình lịch đại táo tả phế thang (đình lịch tử, đại táo, ý dĩ, đông qua tử, đào nhân, lô căn). Nếu do đàm nhiệt bên trong, phong nhập phế kinh gây suyễn thì dùng Phí thị nga lê thang (nga quản thạch, cam thảo sao, qua lâu nhân, hạnh nhân, xuyên bối mẫu, phục linh, trần bì, trúc lịch, bán hạ, tô tử, xạ can, nước lê, nước gừng sống).
Các phép gia giảm thường dùng:① đàm nhiều đặc vàng: thêm qua lâu, thiên trúc hoàng, đởm tinh, tam xà đởm, trần bì mạt;② đàm đục kết dính, khó khạc: thêm hải phù thạch, đái hà tán, trúc lịch thủy;③ đàm khô dính, ho không sảng khoái: thêm bắc sa sâm, thiên môn, mạch môn, lá tỳ bà;④ suyễn kèm đầy tức ngực: thêm chỉ xác, cát cánh;⑤ suyễn kèm đàm ho: thêm địa long, thạch vi, câu đằng, khương tàm;⑥ phế lạc ứ trệ, khí không vận hành, môi miệng tím tái: thêm xích thược, đào nhân, hồng hoa, đan bì, đan sâm, quất lạc;⑦ kèm nhiễm trùng phổi: thêm hoàng cầm, chi tử, kim ngân hoa, liên kiều, ngư tinh thảo, tảo tu.
(3) Hen suyễn lâu ngày sinh hư: Phế chủ khí là biểu của khí, thận chủ khí là bản của khí, tỳ vị thấp trọc là gốc sinh đàm ho, nếu tỳ dương bất túc thì đàm thấp tự sinh trong, nếu thận khí hao tổn thì khí không được nhiếp nạp; do đó hen suyễn kéo dài ngày càng biểu hiện hư chứng ở ba tạng phế – tỳ – thận. Triệu chứng: phế khí hư thì sợ lạnh, tự hãn, ho yếu, đàm loãng, gặp gió lạnh dễ phát cơn hen; tỳ hư thì ho đàm nhiều, tức ngực, ăn ít, đại tiện lỏng, mệt mỏi; thận khí hư thì động nhẹ đã khó thở, ra mồ hôi như tắm, môi tím, lưng gối mỏi, hồi hộp, tay chân lạnh, phù chi dưới. Lâm sàng thường gặp các chứng phế khí hư, phế – tỳ – thận cùng hư, hoặc phế – tâm – thận cùng hư. Phế khí hư dùng Chung nhũ bổ phế thang (nhân sâm, mạch môn, ngũ vị tử, khoản đông hoa, tử uyển, tang bì, quế chi, chung nhũ thạch, bạch thạch anh, nếp, sinh khương, đại táo); phế – tỳ lưỡng hư dùng Lục quân tử thang hợp Linh quế truật cam thang gia vị (đảng sâm, bạch truật, phục linh, cam thảo, trần bì, thanh bán hạ, quế chi, tử uyển, khoản đông hoa, tô tử, hạnh nhân, xuyên bối mẫu); phế – thận âm hư dùng Thất vị đô khí thang (thục địa, sơn dược, sơn thù, phục linh, trạch tả, đan bì, ngũ vị tử), phối hợp Nhân sâm cáp giải tán (nhân sâm, đuôi cáp giải, sinh tang bì, trần bì, hạnh nhân, phục linh, tri mẫu); phế – thận dương hư dùng Kim quỹ thận khí thang, phối hợp Hắc thi đan; tâm – thận dương suy, khí muốn thoát dùng Sâm phụ thang để ích khí hồi dương cố thoát; ra mồ hôi do biểu hư thêm hoàng kỳ, tỳ hư tiêu lỏng thêm bạch truật.
Về điều trị hen suyễn bằng ba phép điều can: hen suyễn là do phế – tỳ – thận ba tạng chức năng suy kém, đàm ẩn bên trong, gặp ngoại tà dẫn phát, đàm theo khí thăng, khí bị đàm trở, hai bên giao đấu làm bế tắc đường thở, phế thất tuyên túc mà sinh ho suyễn, khí xuất nhập làm động đàm kết ở khí đạo thành tiếng rít; điều trị thường trị tiêu bằng phép tuyên phế hóa đàm, trị bản từ phế, tỳ, thận mà vào. Tuy nhiên, trong lâm sàng cần chú ý đến vai trò của tạng can. Can thuộc mộc, phế thuộc kim, kim vốn khắc mộc, nhưng khi phế kim có bệnh lại dễ bị mộc khí phản khắc; người bệnh phổi mạn tính tái phát lâu ngày càng dễ gặp, có thể mộc uất hóa hỏa khắc phế kim, hoặc can âm bất túc, kéo thận thủy, con cướp mẹ khí, khiến phế mất thanh nhuận. Do vậy, ngoài những phép điều trị thông thường, lâm sàng thường phối hợp thêm pháp thanh can, sơ can, dưỡng can, thu được hiệu quả khả quan.
Dùng cho chứng can đởm hỏa vượng, mộc hỏa hình kim, phế thất thanh túc, biểu hiện ho suyễn, có thể kèm tiếng rít, đầu nặng, chóng mặt, tai ù điếc, mắt đỏ miệng đắng, lưỡi đỏ rêu vàng, mạch huyền sác; điều trị lấy phép túc can bình suyễn, thanh can giáng hỏa, dùng toàn qua lâu, khổ hạnh nhân, tang bì, mật sao ma hoàng, mật sao tử uyển.
Dùng cho chứng khí cơ uất trệ do can mất sơ tiết, phế thất tuyên giáng, biểu hiện ho suyễn liên miên, hoặc tiếng rít, hông sườn không khoan khoái, ngực bụng đầy tức, ăn kém, ợ hơi, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch huyền; trị bằng phép lý phế bình suyễn hợp sơ can giải uất, dùng chế hương phụ, quang uất kim, sao tô tử, sao chỉ xác, hàng bạch thược, huyền phục linh, xuyên liên tử, mật sao ma hoàng, mật sao tử uyển.
Dùng cho chứng can âm bất túc, táo khí thượng bức, biểu hiện ho suyễn lâu ngày không dứt, khí gấp tiếng rít, có thể ho ra máu, miệng khô họng rát, hông sườn không thư thái, mạch tế sác; điều trị theo phép nhuận phế bình suyễn, dưỡng huyết nhu can, dùng nam sa sâm, khổ hạnh nhân, huyền sâm, địa cốt bì, nữ trinh tử, hán liên thảo, cam thảo, mật sao ma hoàng, mật sao tử uyển.
Biện chứng luận trị hen suyễn: bệnh phần nhiều do ngoại tà phát động nội hỏa mà thành, căn cứ vào nguyên nhân nên phân biệt hàn nhiệt. Thường gặp ba chứng: nhiệt suyễn, hàn suyễn, hàn bao nhiệt suyễn. Hàn suyễn dùng Tiểu thanh long thang làm chủ; nhiệt suyễn dùng Ma hạnh thạch cam thang hoặc bài thuốc hiện đại như Quân khí bát tiên thang (ma hoàng, hạnh nhân, thạch cao, cát cánh, hoàng cầm, cam thảo, tri mẫu, bối mẫu); hàn bao nhiệt suyễn thì dùng Tiểu thanh long gia thạch cao hoặc Ma hạnh thạch cam thang gia giảm đều được. Về bệnh cơ, cần giáng khí hóa đàm; giáng khí dùng tô tử, lai phục tử, chỉ xác, kim phỉ thảo; tiêu đàm dùng Nhị trần thang, nam tinh, bạch giới tử. Tất cả các trường hợp trên đều là thực chứng, nếu thấy phế hư thì nên bổ bằng Sinh mạch thang; thận hư thì thêm Bạch thạch anh, dùng bài Trinh nguyên ẩm (bài thuốc của Cảnh Nhạc, gồm đương quy, thục địa, cam thảo sao… các vị như ngỗ quản thạch, đông trùng hạ thảo đều có thể gia giảm). Nếu là thuần thực chứng thì không dùng thuốc bổ thận; nếu là phế thận khí hư thì không nên dùng ma hoàng bừa bãi. Hắc thi đan có tác dụng nạp khí bình suyễn rất rõ rệt, bất kể suyễn thuộc hư hay thực đều có thể sử dụng, nhưng chú ý liều lượng không nên nhiều (mỗi lần không quá 2g, thông thường dùng 0,5g đã có hiệu quả), không thích hợp dùng lâu dài.
(1) Chú trọng ích vệ cố biểu: bệnh nhân hen phế quản, khi truy nguyên bệnh sử, nhiều người khởi phát từ viêm mũi dị ứng. Nguyên nhân cơ bản là “vệ dương bất cố, phế khí uất bế”. Do đặc điểm dễ bị ngoại tà dẫn phát, thì vệ dương bất cố là yếu tố chính, phế khí uất bế là thứ yếu. Xét theo quan hệ bản – tiêu thì vệ dương bất cố là bản, phế khí uất bế là tiêu. Do vệ dương bất cố nên dễ bị cảm mạo, do phế khí uất bế nên dễ tiếp diễn thành hen suyễn. Vệ dương bất cố là nguyên nhân gốc, phế khí uất bế là hậu quả biểu hiện. Vì vậy, ích khí cố biểu là trọng yếu. Từ nhận thức này, đối với bệnh nhân hen kèm viêm mũi hoặc dễ bị cảm phát hen, thì nên gia thêm bài Ngọc bình phong tán để tăng hiệu quả điều trị và giúp giảm tái phát.
(2) Hàn bao nhiệt suyễn là chủ yếu: hen suyễn thường gặp thể hàn bao nhiệt. Ngoài biểu hiện mạch chứng có cả hàn lẫn nhiệt, còn thấy suyễn nhiệt phát vào mùa đông, suyễn hàn phát vào mùa hè, đều quy vào hàn bao nhiệt. Kinh nghiệm lâm sàng: đối với hen thuộc thể hàn bao nhiệt, ngoài các bài thuốc điều hòa hàn nhiệt (như Tiểu thanh long thang gia thạch cao hoặc Việt tỳ gia bán hạ thang), còn có thể áp dụng phép tả hạ. Lâm sàng cho thấy, dùng phép tả hạ trị hen không chỉ giới hạn trong thể hàn bao nhiệt, chỉ cần là thực chứng thì đều có thể tả hạ. Phương thuốc tả hạ thường dùng là khiên ngưu 60g, đại hoàng 30g, hai vị nghiền mịn (theo Trung tàng kinh), mỗi lần uống 6g, hòa với mật và nước ấm là thích hợp. Còn có bài Định suyễn số II, gồm hắc sửu, bạch sửu, ma hoàng, đại hoàng, các vị bằng nhau, tán bột làm hoàn với mật, mỗi lần uống 6 – 9g, dùng cho hen do phế nhiệt.
(3) Hòa hoãn co thắt: hen suyễn ngoài việc phải phân biệt hàn – nhiệt – hư – thực để biện chứng luận trị theo bệnh cơ bệnh nhân, còn cần kết hợp biện bệnh và chọn thuốc phù hợp để tăng hiệu quả. Trong lâm sàng, thường gia thêm một số vị thuốc có tác dụng hòa hoãn co thắt như: cương tàm, bạch phụ tử, câu đằng, địa long, bạch thược, toàn trùng, tế tân… tùy chứng chọn 1–2 vị đều có thể tăng hiệu quả điều trị.
Các thể biện chứng của hen suyễn gồm:
Đặc điểm là ho suyễn, sợ lạnh, không ra mồ hôi, vai gáy cứng, hắt hơi nhiều, có thể đau đầu nghẹt mũi, đàm trắng loãng, rêu lưỡi trắng, chi lạnh, mạch phù khẩn, miệng không khát hoặc thích uống nước ấm. Trị nên ôn phế tán hàn, bài chủ là Tiểu thanh long thang (ma hoàng 10g, thược dược 15g, cam thảo sao 7,5g, nhục quế 5g, can khương 5g, tế tân 2,5g, bán hạ 7,5g, ngũ vị tử 5g), sau đó uống tiếp bài Định suyễn bạch quả thang gia vị (bạch quả sao 15g, ma hoàng 10g, đông hoa sao 15g, bán hạ 10g, tang bì sao 15g, tô tử 15g, hạnh nhân 15g, hoàng cầm 10g, cam thảo sao 7,5g, xuyên bối 5g).
(2) Hàn bao hỏa chứng:
Biểu hiện sợ gió ghét nóng, ho suyễn, đàm dính màu vàng, mạch huyền hoạt sác, rêu lưỡi vàng, biên lưỡi đỏ bóng, miệng khô.
Trị pháp: Thanh kim giáng hỏa, dùng Ngũ hổ thang gia vị (ma hoàng 10g, hạnh nhân 10g, thạch cao 15g, cam thảo 7,5g, trà diệp 5g, tang bì 15g, mã đậu linh 7,5g), sau đó dùng bài Ma sài cam thấu thang (ma hoàng 10g, sài hồ 10g, cam thảo 10g, thấu cốt thảo 15g).
(3) Phế thực chứng:
Biểu hiện ho suyễn, họng nghẹn, khạc đàm khó, tức ngực đau hông, rêu lưỡi vàng nhớt, mạch huyền hoạt hoặc trầm sác.
Điều trị nên thanh phế lý đàm, dùng Thanh táo cứu phế thang gia vị (thiên môn 15g, mạch môn 15g, cam thảo sao 7,5g, tri mẫu 10g, trần bì 10g, hoàng cầm 10g, tang bì 15g, hạnh nhân 15g, chỉ xác 1,5g, cát cánh 10g, mao căn 20g, qua lâu nhân 15g), sau đó dùng bài Hạnh nhân tán (hạnh nhân, xuyên bối, tử uyển, đông hoa, huyền sâm), người lớn mỗi lần 10g, trẻ em giảm liều, dùng nước gừng mật để uống.
(4) Ứ tắc chứng:
Biểu hiện tức ngực đầy bụng, sợ lạnh mệt mỏi, thở ngắn suyễn gấp, khạc đàm khó, rêu lưỡi trắng bẩn nhớt, mạch trì sáp.
Trị nên khai hung lợi cách, chủ phương là Tô tử giáng khí thang (tô tử 15g, trần bì 10g, bán hạ 10g, đương quy 10g, tiền hồ 10g, quế chi 10g, xuyên phác 10g, cam thảo sao 7,5g), sau đó dùng bài Quế chi gia hậu phác hạnh nhân thang (hạnh nhân 5g, quế chi 15g, thược dược 15g, cam thảo sao 10g, sinh khương 5g, hậu phác 15g, đại táo 10g), sắc uống, sau khi uống nên ăn một bát cháo loãng để tăng hiệu lực thuốc.
Trong điều trị cần tuân thủ nguyên tắc: Khi phát bệnh thì trị phần ngọn, khi không phát thì trị phần gốc. Khi phát tác thì lấy bình suyễn chỉ khái làm chính; Khi suyễn đã ổn thì chú trọng điều hòa tỳ vị, dùng các vị thuốc bổ phế ích thận, hóa đàm điều khí để củng cố hiệu quả điều trị. Trên lâm sàng phần nhiều gặp thể hàn chứng, tiếp đến là hàn bao hỏa chứng, đặc biệt hay gặp ở trẻ em từ 1 đến 10 tuổi. Một nửa số trẻ nếu chăm sóc không cẩn thận rất dễ bị hàn tà xâm nhập mà phát hen. Hai bài thuốc Hạnh nhân tán và Ma sài cam thấu thang là phương thuốc kinh nghiệm tự soạn, Hạnh nhân tán có hiệu quả tốt với thể hen thực ở phế, còn Ma sài cam thấu thang thì hiệu quả với thể hàn bao hỏa.
Các phương pháp điều trị hen thường dùng là gì?
Dù do nội nhân hay ngoại nhân gây nên, bệnh cơ của hen đều là do khí cơ thăng giáng xuất nạp thất điều khiến phế khí mất tuyên, mất giáng, mất nạp. Do đó, then chốt trong điều trị hen là điều thuận khí cơ, và trọng điểm của điều thuận khí cơ có thể khái quát bằng ba pháp: tuyên, giáng, nạp, vì phế khí dùng tuyên làm công năng, lấy giáng làm thuận, lấy nạp (nạp về thận) làm lợi. Sau đây là phân tích chi tiết:
(1) Tuyên pháp Tức là phương pháp tuyên sướng phế khí. Phế khí lấy tuyên sướng, bố đạt làm công dụng. Chỉ khi phế khí tuyên đạt, thông thuận thì mới có thể hít thanh khí, thở trọc khí một cách hiệu quả, duy trì sự sống. Nếu bên trong phế có đàm ẩn tiềm phục, lại cảm nhiễm ngoại tà hoặc ăn uống không cẩn thận, tình chí tổn thương, kích phát đàm ẩn thì sẽ khiến phế khí mất tuyên mà phát hen. Trị pháp nên dùng tuyên trọc để thông phế khí. Lâm sàng tùy theo nguyên nhân gây bệnh mà tuyên trọc chia thành “ôn tuyên pháp”, “thanh tuyên pháp” và “khư tuyên pháp”. Cụ thể: hen lạnh thì dùng ôn tuyên để thông; hen nhiệt thì dùng thanh tuyên để thông; hen trọc thì dùng khư tuyên để thông.
① Ôn tuyên pháp Ôn tuyên pháp dùng các thuốc có tính vị tân ôn để tán hàn tà tụ nơi phế, hóa giải hàn đàm kết tụ, nhằm tuyên sướng phế khí, đạt được hiệu quả bình suyễn chỉ khái. Phương này dùng cho chứng hen hàn, biểu hiện là hen do cảm phong hàn hoặc ăn uống lạnh mà phát, suyễn cấp, tức ngực khó thở, sợ lạnh, tay chân lạnh, mặt tái môi tím, đàm trắng dính, rêu lưỡi trắng nhớt, mạch huyền hoạt, họng có tiếng như nước kêu, phổi có tiếng rít. Dùng bài Xạ can ma hoàng thang hợp Tiểu thanh long thang gia giảm, gồm các vị: xạ can, ma hoàng, tế tân, pháp hạ, quế chi, sinh khương, ngũ vị tử, cam thảo. Các vị ma hoàng, tế tân, sinh khương, quế đều là thuốc tân ôn tán hàn tuyên phế, đặc biệt tế tân tân ôn hành tẩu, giỏi khai khiếu, là tiên phong khai thông khí đạo; ma hoàng tân khổ ôn, tuyên phế khí thượng, giáng nghịch khí, vừa mở quỷ môn, vừa thanh lý phế phủ, là chủ tướng bình suyễn. Sinh khương, bán hạ giỏi hóa hàn đàm; xạ can, quế chi hàn ôn lưỡng dụng, lợi yết thông trệ; thêm ngũ vị tử để liễm phế khí, tránh tuyên tán quá mức mà thương tổn khí phế; cam thảo điều hòa các vị thuốc, bản thân cũng giỏi bình suyễn. Như vậy thì hàn được tán, đàm được hóa, khí đạo thông suốt, hen tự lui.
② Thanh tuyên pháp Thanh tuyên pháp dùng các thuốc tính hàn lương để thanh nhiệt hóa đàm, tuyên thông phế khí, từ đó đạt được mục tiêu bình suyễn chỉ khái. Phù hợp với thể hen nhiệt do đàm nhiệt giao kết, khí đạo bế tắc. Biểu hiện: suyễn tiếng to, thở gấp, tức ngực thở mạnh như khí không thể chứa nổi, há miệng nâng vai, dựa ngồi mà thở, thở ra thấy dễ chịu, có thể kèm phát sốt, miệng khô, ra nhiều mồ hôi, lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch hoạt sác. Nghe ở họng có đàm kêu như cưa kéo, phổi có tiếng rít, thậm chí có rale ẩm – khô (thường do nhiễm trùng kết hợp). Thường dùng bài Thanh tuyên bình suyễn thang tự soạn, tức bài Ma hạnh thạch cam thang gia thêm đình lịch tử, mã đậu linh, tang bì, trúc lịch tươi. Ma hạnh thạch cam thang là thuốc chính, tân lương tuyên tả, thanh phế định suyễn; đình lịch tử, mã đậu linh khổ hàn giáng khí; tang bì, trúc lịch cam hàn nhuận phế. Hợp lại giúp phế nhiệt được thanh tiết, đàm nhiệt được hóa giải, tà khí tiêu trừ, khí đạo thông suốt, hen không phát.
Khư tuyên pháp là phép khu trừ phong tà. Hen suyễn do dị ứng thường khởi phát nhanh, lui cũng nhanh, phù hợp với đặc điểm của phong tà là “thiện hành nhi số biến”, do đó quy nguyên nhân gây dị ứng về phong tà là hợp lý. Phép khu tuyên bình suyễn dùng cho thể hen thiên về phong tà, biểu hiện: hen phát đột ngột, tức ngực khó thở, ngứa họng, ho sặc, đàm ít hoặc không có, rêu lưỡi sạch, mạch phù hoạt. Thường dùng bài Khu phong thang (phương nghiệm tự chế): phòng phong 10g, kinh giới 10g, bạch chỉ 6g, tế tân 3g, địa long 10g, thiền y 6g, mộc hồ điệp 5g, bạc hà 6g, thương nhĩ tử 10g, cam thảo 10g. Phong có tính nhẹ, dễ xâm phạm thượng tiêu, vì vậy thuốc dùng cũng nên nhẹ, không chỉ về lượng mà cả về chất, như kinh giới, phòng phong, tế tân, thiền y, mộc hồ điệp… Thuốc tính nhẹ nhàng, tuyên tiết thượng tiêu, mới có thể khu phong chỉ suyễn hiệu quả, như câu “thượng tiêu như vũ, phi khinh bất cử”.
(2) Giáng pháp: Tức là phương pháp thông giáng phế khí. Phế chủ túc giáng, phế khí lấy thanh túc đi xuống làm thuận, nếu bế tắc mà xung lên thì là nghịch. Phế khí bế tắc phần nhiều do đàm ẩm tiềm phục trong cơ thể, lại cảm ngoại tà kích phát, dẫn đến đàm khí cùng kết, khí đạo bị bế, phát thành hen suyễn. Do đó, trị hen suyễn thường dùng phép giáng khí. Trên lâm sàng tùy theo chứng mà chia thành hai phép:
① Lý khí giáng nghịch pháp: Dùng các vị thuốc trừ đàm, khoan hung, hạ khí phối hợp, trị các thể hen có đàm khí giao kết nghiêm trọng, biểu hiện: phát tác hen, tiếng thở cao, thở hổn hển, họng có tiếng đàm như cưa kéo, ngực bức tức, thở mạnh, đàm dãi tích tụ, có khi kèm buồn nôn ói đàm, rêu lưỡi dày nhớt, mạch hoạt hoặc huyền hoạt. Có thể dùng Tô tử giáng khí thang hợp Tam tử dưỡng vinh thang, gồm: tô tử, bạch giới tử, lai phục tử, trần bì, bán hạ, đương quy, tiền hồ, hậu phác, sinh khương, quế chi, trầm hương, cam thảo. Trong đó tam tử, trần bì, bán hạ, tiền hồ là chủ thuốc trừ đàm thực; lai phục tử, trần bì, hậu phác, trầm hương có tác dụng khoan hung hạ khí; đương quy, quế chi, sinh khương, cam thảo có thể thông lợi huyết mạch, vì phế chủ bách mạch, bách mạch thông thì có lợi cho phế khí giáng. Toàn phương vừa trừ đàm giáng khí, vừa thông lợi huyết mạch, khí đạo thông thì hen suyễn sẽ giảm.
② Phủ để trừu tân pháp: phế và đại trường biểu lý tương quan, nếu phế khí không giáng thì đại tiện khó thông, ngược lại nếu đại tiện không thông thì phế khí cũng khó giáng, cả hai đều có thể dẫn đến hoặc làm nặng thêm hen. Thường thấy ở thể hen do phế nhiệt đàm kết hoặc hen kèm chứng đại trường nhiệt kết. Biểu hiện: phát cơn hen, tiếng thở lớn, ngực bức bụng đầy, táo bón mấy ngày không đi, có thể kèm mồ hôi trán, miệng khô khát, lưỡi đỏ sẫm, rêu vàng dày, mạch hoạt sác. Có thể dùng Tuyên bạch thừa khí thang gia vị, để thanh phế giáng khí, hóa đàm thông tiện, thuốc gồm: sinh đại hoàng, sinh thạch cao, hạnh nhân, qua lâu, tang bì, chỉ thực, hậu phác, lai phục tử; nếu táo bón nặng có thể thêm mang tiêu. Trường hợp cấp tính, không tiện sắc thuốc, có thể dùng bột sinh đại hoàng 3–5g nuốt trực tiếp, ngày 2–3 lần, cũng có hiệu quả.
Phế khí cần phối hợp hô và hấp, tuyên và nạp hỗ trợ lẫn nhau mới thành công năng. Nếu chỉ hô không hấp hoặc hấp không hô, thì phế khí sẽ tuyệt. Nếu tuyên nhiều mà nạp ít thì phế khí hao tán vô gốc, thành chứng hư suyễn; nếu nạp nhiều tuyên ít thì phế khí bế tắc mà sinh suyễn. Do đó, sự thăng giáng xuất nhập của phế khí có quan hệ mật thiết với cơ chế sinh bệnh của hen suyễn. Phép nạp khí thường dùng cho các trường hợp chỉ suyễn mà không có tiếng rít, hay gặp trong giai đoạn lui bệnh của hen mãn, biểu hiện: dễ thở hụt hơi, thở ngắn gấp. Trên lâm sàng chia thành hai pháp: bổ thận nạp khí pháp và trấn nạp phù dương pháp.
①Phép bổ thận nạp khí :
Dùng cho chứng hư suyễn do phế thận lưỡng hư, biểu hiện: thở ngắn gấp, thở gấp yếu, dễ ra mồ hôi, vận động thì nặng hơn, thường kèm hoa mắt ù tai, lưng gối mỏi mềm, tiểu đêm nhiều, mạch xích yếu. Có thể dùng Nhân sâm cáp giải tán gia giảm, nếu thiên về phế khí hư, ra mồ hôi nhiều, dễ cảm cúm ho, thì thêm Ngọc bình phong tán, ngũ vị tử, tử uyển; thiên về thận khí hư, dương hư sợ lạnh, đau lưng mỏi gối, di tinh, tiểu đêm nhiều, thì thêm hồ đào nhục, tiên linh tỳ, nhục thung dung, nga quản thạch; thiên về âm hư, ngũ tâm phiền nhiệt, đổ mồ hôi trộm, miệng khô không thích uống, người gầy, mạch tế sác, thì thêm thục địa, mạch môn, ngũ vị tử, hoặc đổi dùng Mạch vị địa hoàng thang.
② Trấn nạp phù dương pháp: dùng cho những trường hợp hen suyễn nhiều năm, chính khí đại hư, nguyên khí hao tán, biểu hiện: thở gấp, thở nông, ra mồ hôi tay chân lạnh, sắc mặt hồng nhạt hoặc tái, thần sắc bấn loạn như khí muốn tuyệt, mạch vi tế hoặc phù tán vô căn. Dùng Sâm nhung hắc thi đan để uống, hoặc Sâm phụ long mẫu thang.
Nghiên cứu chứng trị hen phế quản có những đặc điểm gì? Hen có căn nguyên tiềm phục, mỗi khi lạnh hoặc mệt dễ phát. Đặc điểm chứng trị: khi hen phát thì biểu chứng nổi bật, điều trị cần lấy phát tán trừ tà làm đầu, chủ yếu dùng Hoa cái tán gia giảm, tà biểu được giải, khí đạo được mở, đàm tự lui thì khí tự giáng, túc giáng hồi phục, suyễn tự ổn. Gặp lạnh mà phát, cả biểu lẫn lý đều hàn là chứng của Tiểu thanh long thang trong sách của Trương Trọng Cảnh. Nội nhiệt ngoại hàn, tức “hàn bao nhiệt”, nên chọn Việt bì gia bán hạ thang, Ma hạnh thạch cam thang, nếu hàn thắng nhiệt thì chọn Đại thanh long thang gia giảm. Nếu đàm tích tụ, nhiệt ẩn, phế khí thượng nghịch, biểu hiện: ngứa họng ho từng cơn, đàm vàng đặc, khó khạc, phiền táo tự hãn, mạch huyền hoạt sác, rêu lưỡi vàng, lưỡi đỏ đầu cạnh, nên dùng ma hoàng, xạ can, sinh thạch cao, chỉ xác, cát cánh, bạch hạnh nhân, đình lịch tử, sinh cam thảo, lai phục tử, để tả phế hóa đàm, hạ khí thanh nhiệt. Đàm hỏa uẩn chưng, bốc lên bức bách phế kim, dương minh thông giáng thất thường, biểu hiện: phát tác nhiều lần, ngày đêm tái phát vài lượt, cúi được nhưng không ngửa được, ho từng cơn có đàm rít, đàm vàng đặc hoặc sủi bọt, ngực đầy tức, táo bón, mạch sác hữu lực, lưỡi đỏ, miệng khô, cần gấp dùng Cổn đàm hoàn, Thừa khí thang để hạ giáng mạnh, với người thể thực, bệnh thực thì hiệu nghiệm như đánh trống. Đàm hỏa uất kết, dương khí bức uất, doanh vệ phân tranh, biểu hiện: phát cơn hen suyễn, ho nghẹn, ngực đầy tức, kèm sốt rét, giống như bệnh ngược, hai sườn trướng đầy, nên dùng phép mộc uất đạt chi, hỏa uất phát chi, dùng sài hồ, xạ can, chỉ thực, cát cánh, phục linh… để thông đạt uất khí. Khi tả và nôn ra nhiều đàm dai, khí tự thuận, suyễn tự yên.
Trẻ nhỏ mắc hen suyễn phần nhiều là hàn bao nhiệt, thường nên dùng Xạ can ma hoàng thang, Đình lịch đại táo tả phế thang hoặc Hoàng cầm bán hạ thang gia giảm, tránh dùng Tiểu thanh long thang bừa bãi.
Trị bản khi hen suyễn đã lui, nên ôn trung kiện vận để cắt nguồn sinh đàm, bổ phế ích khí để tăng cường chính khí. Bài hoàn gia truyền như sau: Tử hà xa 30g, Lộ đảng sâm 30g, Sao bạch truật 60g, Bạch phục linh 43g, Tô tử 30g, Khoản đông hoa 45g, Toàn đương quy 45g, Quế chi 21g, Hàng bạch thược 30g, Trần bì 20g, Pháp bán hạ 30g, Chích kê nội kim 30g, Tiêu thần khúc 30g, Kim mao cẩu tích 30g, Lộc giác giao 30g. Tất cả tán mịn, luyện với nước làm hoàn, cỡ hạt đậu xanh, ngày uống 6g sáng tối, uống với nước ấm.
Làm sao dùng liệu pháp tia tử ngoại để trị hen phế quản?
Dùng tia tử ngoại chiếu vào huyệt đạo theo biện chứng luận trị, tùy thể chất mà xác định liều lượng và liệu trình thích hợp, có thể đạt hiệu quả khá tốt. Quan sát lâm sàng cho thấy, trẻ em đáp ứng tốt hơn người lớn, bệnh mới thì hiệu quả càng cao, tỉ lệ tái phát thấp. Người dương hư đặc biệt phù hợp, sau chiếu tia thấy dễ chịu ấm áp, bớt sợ lạnh, ăn ngon, tăng cân, ít cảm lạnh. Phương pháp:
(1) Dụng cụ: đèn thủy ngân thạch anh đứng, công suất 500W.
(2) Chọn huyệt:
– Phế dương hư: Đại chùy, Phế du, Cao hoang, Đản trung
– Phế thận dương hư: Gia Mệnh môn, Thận du
– Phế tỳ thận dương hư: Tái gia Tỳ du, Túc tam lý
(3) Liều lượng và liệu trình: Việc nắm vững liều lượng chính xác là then chốt để đạt hiệu quả điều trị. Nếu liều quá nhỏ thì hiệu quả không rõ, nếu quá lớn thì không những vô ích mà đôi khi còn làm triệu chứng trầm trọng thêm. Vì vậy, khi bắt đầu điều trị, mỗi người đều phải được đo liều sinh học, điều này rất quan trọng và không được bỏ qua. Các huyệt vùng lưng thường bắt đầu từ 2 đơn vị sinh học, sau đó mỗi lần tăng thêm ½ đến 1 đơn vị, cho đến khi đạt phản ứng đỏ nhẹ trên da. Huyệt mệnh môn có thể bắt đầu từ 3 đơn vị sinh học, sau đó mỗi lần tăng thêm 1 đến 2 đơn vị sinh học. Chiếu cách ngày một lần, từ 6 đến 15 lần là một liệu trình. Khi cần thiết, nếu biện chứng vẫn thuộc dương hư, có thể lặp lại một liệu trình nữa. Tuy nhiên, hai liệu trình không nên quá gần nhau, thời gian cách nhau không được ít hơn 3 tháng. Nếu sau khi chiếu trong năm đầu mà bệnh không tái phát, thì vào mùa hè năm sau (tức ba thời kỳ phục khí) nếu biện chứng vẫn là dương hư thì có thể tiếp tục chiếu để củng cố hiệu quả điều trị.
(4) Lưu ý:
① Trước khi chiếu nên giải thích rõ cảm giác thường gặp để tránh bệnh nhân căng thẳng.
② Lần chiếu thứ hai phải giữ đúng tư thế nằm và vị trí vải lỗ như lần đầu, tránh bỏng và ảnh hưởng hiệu quả.
③ Vùng không chiếu phải che kỹ bằng vải.
④ Trong quá trình chiếu cần theo dõi sát biến đổi triệu chứng và da vùng chiếu, nếu da đổi màu sậm hoặc bong tróc, lưỡi đỏ hoặc có phản ứng xấu thì cần xử lý kịp thời.
Làm sao dùng liệu pháp giác hơi để trị hen phế quản?
Thích hợp cho người dương hư ở giai đoạn phát nhẹ hoặc thời kỳ lui bệnh.
Chọn huyệt: Đại chùy, Phế du, Cao hoang, Định suyễn, Đản trung, Túc tam lý. Mỗi lần có thể chọn 1 hoặc vài huyệt để giác, mỗi ngày hoặc cách ngày một lần, thay đổi vị trí, 10–20 ngày là một liệu trình. Các bước thực hiện:
(1) Chuẩn bị: giác hỏa, kim, cồn, bông, bật lửa…
(2) Chọn loại giác phù hợp với vùng điều trị: vùng cơ to dùng giác lớn, vùng cơ mỏng dùng giác nhỏ
(3) Cách châm lửa:
– Bạt hỏa pháp: phù hợp với giác ngang
– Thiểm hỏa pháp: phù hợp với giác thẳng đứng.
(4) Thời gian giữ ống giác nên căn cứ vào tình trạng bệnh, vị trí và kích cỡ của ống giác để quyết định. Thông thường, ống lớn giữ trong 10 phút, ống nhỏ giữ 10–15 phút.
(5) Khi lấy ống ra, một tay ấn nhẹ vào vùng da bên mép miệng ống, tay kia giữ ống và nghiêng nhẹ sang một bên để không khí lọt vào, ống giác sẽ tự rơi ra.
(6) Sau khi lấy ống, nếu da bị thâm tím, nổi bọng nước hoặc trầy xước thì cần băng lại bằng gạc vô trùng hoặc bôi gentian violet để tránh nhiễm trùng.
Cách điều trị hen phế quản bằng liệu pháp từ trường:
Phương pháp sử dụng tác động của từ trường lên cơ thể để chữa bệnh được gọi là liệu pháp từ trường, hiện thường áp dụng tại các huyệt đạo nên còn gọi là từ liệu pháp.
(1) Thiết bị: máy điều trị từ trường một chiều, máy từ hóa, máy từ trường xoay, máy từ trường xung.
(2) Liều lượng:
– Liều nhỏ: dưới 500 Gauss
– Liều trung bình: 501–1500 Gauss
– Liều lớn: trên 1500 Gauss
(3) Thời gian: mỗi lần điều trị 20–30 phút, mỗi ngày hoặc cách ngày 1 lần, 15–20 lần là 1 liệu trình. Nếu sử dụng miếng dán từ hóa thì thường dán liên tục, sau 5–6 ngày thì gỡ ra nghỉ 1–2 ngày rồi dán lại.
(4) Vị trí huyệt: Đại chùy, Thiên đột, Phế du, Cao hoang, Hợp cốc, Túc tam lý.
(5) Lưu ý: Người bệnh nặng, thể trạng quá suy yếu hoặc chưa rõ chẩn đoán cần cân nhắc kỹ hoặc theo dõi chặt chẽ. Tác dụng phụ của từ liệu pháp thường nhẹ, nếu xuất hiện có thể điều chỉnh phương pháp và cường độ từ trường. Nếu vẫn không cải thiện thì nên ngừng điều trị. Các vật liệu từ thường không đều nhau ở hai cực, sử dụng lâu có thể giảm cường độ từ, cần sạc lại. Vật liệu từ dễ vỡ, không được va đập hay khử trùng trong môi trường ẩm. Các vật liệu từ có cường độ khác nhau nên bảo quản riêng, không đặt gần đồng hồ, và không nên ép hai cực cùng dấu lại gần nhau bằng ngoại lực.
Cách điều trị hen phế quản bằng điện cảm ứng và điện một chiều tại huyệt đạo:
Phương pháp này thích hợp với hen thể thực phát cơn cấp kèm ngoại cảm.
(1) Vị trí huyệt:
– Huyệt tai: vùng phổi, Định suyễn, Thượng thận.
– Huyệt cơ thể: Đại chùy – Thiên đột, Phế du – Đản trung, Thần môn – Thái uyên, có thể thêm Phong long – Túc tam lý hoặc Hợp cốc.
(2) Liều điều trị:
Cường độ dòng điện cảm ứng và điện một chiều tùy theo khả năng chịu đựng của người bệnh, phải có cảm giác dẫn truyền xuống. Mỗi ngày 1 lần, mỗi huyệt từ 5–10 phút (tổng không quá 30 phút). Sau 20–25 lần, khi triệu chứng giảm thì chuyển sang cách ngày 1 lần. Nếu bệnh không phát, có thể duy trì mỗi tuần 1 lần để củng cố hiệu quả, thực hiện vài lần.
(3) Lưu ý:
– Điện cực dạng chấm đặt đúng huyệt, lực ép đều, phương thẳng góc (đặc biệt ở huyệt Thiên đột).
– Cường độ điện cần mạnh, nhưng không gây đau buốt cho người bệnh.
– Giữ ấm điện cực (nhất là mùa đông).
– Ghi nhận phản ứng của người bệnh và mức cải thiện cơn hen mỗi ngày.
Cách điều trị hen phế quản bằng châm cứu:
Theo báo cáo của Thiệu Trường Vinh, châm cứu điều trị hen thường lấy các huyệt Đại chùy, Phế du, Thiên đột, Suyễn tức làm chủ huyệt. Cũng có nghiên cứu châm huyệt Nội quan, Nghênh hương cho hiệu quả tốt trong cơn hen cấp. Với cơn hen do ho kịch phát, châm huyệt Ngư tế thường cho hiệu quả tức thì trong việc cắt cơn ho và giảm suyễn.
Chu Thụy Quần báo cáo: chỉ cần châm huyệt Ngư tế (kích thích mạnh), sau vài phút đã có thể giảm rõ rệt cơn hen. Theo thống kê của Bệnh viện Thượng Hải Thục Quang, hiệu quả ngay đạt tới 70%, có thể nghe thấy tiếng rít phổi giảm dần hoặc mất hẳn trong quá trình châm cứu, nhưng dễ tái phát và thời gian duy trì ngắn.
Các phương pháp như thủy châm, laser châm, điện châm cũng có hiệu quả nhất định, thường lấy các huyệt như Suyễn tức, Phế du, Đại chùy. Ngoài ra, dùng Hoàng kỳ 2ml tiêm vào các huyệt Túc tam lý, Thiên phủ mỗi tuần 1 lần cũng có kết quả.
Liệu pháp dẫn thuốc ion qua huyệt cũng hiệu quả trong điều trị hen. Dựa theo biện chứng mà chọn loại thuốc hàn, nhiệt phù hợp, các huyệt thường dùng là Bách lao, Cao hoang, Phế du, với tổng tỷ lệ hiệu quả đạt 75%–90%. Đo các chỉ số hô hấp cho thấy sau điều trị, dung tích phổi và thể tích khí thở ra trong giây đầu tiên đều có cải thiện rõ rệt.
Vương Toàn Thụ báo cáo: điều trị kết hợp châm cứu và cấy chỉ cho hiệu quả cao hơn đơn châm, tổng hiệu quả đạt 93,3% trong 196 ca.
Sài Tiêu báo cáo: châm cứu kết hợp biện chứng dùng thuốc điều trị hen dai dẳng ở 21 ca, khỏi 13 ca, cải thiện rõ 3 ca, có hiệu quả 2 ca, không hiệu quả 2 ca.
Trần Đê báo cáo: sử dụng thủy châm tại huyệt, thể thực dùng dung dịch tiêm acid nucleic, thể hư dùng dung dịch tiêm nhau thai, kết hợp với biện chứng dùng thuốc Trung y điều trị hen ở 50 ca, tổng hiệu quả đạt 94%.
Tôn Vĩ báo cáo: dùng châm cứu kết hợp đắp thuốc hoàn điều trị hen ở 157 ca, tổng hiệu quả đạt 94,9%.
Lâm Hoằng báo cáo: dùng cứu khô Can khương điều trị hen phế khí hư, có thể cải thiện rõ chức năng thông khí phổi, đồng thời quan sát thấy sau điều trị nồng độ cGMP huyết tương giảm rõ, cAMP tăng, cho thấy phương pháp này có tác dụng ôn bổ với hen thể phế khí hư.
Lưu Tổ Chính báo cáo: sử dụng ngải cứu kết hợp đắp định suyễn cao điều trị hen ở 40 ca, tổng hiệu quả đạt 95%.
Phương pháp cứu trị hen thường dùng là phương pháp cứu gây đỏ và sưng da (còn gọi là cứu phồng), có thể kích phát và điều hòa khả năng kháng bệnh tự thân, tăng cường chức năng miễn dịch tế bào, thường áp dụng vào mùa hè cực nhiệt (đại phục thiên).
Cách dùng phương pháp chích huyết sau tai để trị hen phế quản: dùng kim hoặc dao chích vỡ tĩnh mạch nông hoặc huyệt vị trên cơ thể để cho ra một lượng máu nhỏ nhằm trị bệnh gọi là phương pháp chích huyết. Chích huyết sau tai là một dạng chích huyết, áp dụng thủ pháp châm lể để trị hen. Khi cơn hen cấp phát, massage hai tai cho sung huyết, sát trùng da sau tai, dùng kim tam lăng châm vỡ tĩnh mạch nhỏ sau tai, nặn ra 1–2ml máu, cơn hen sẽ giảm ngay sau đó. Phương pháp này thích hợp cho bệnh nhân hen thể đàm nhiệt thực, có tác dụng thanh tiết biểu tà.
Cách dùng phương pháp chích sợi dưới da để trị hen phế quản: là phương pháp dùng kim thô chích cắt các sợi trắng dạng sợi dưới da tại vùng nhất định để trị bệnh.
Cách làm: (1) bệnh nhân ngồi quay lưng trên ghế dựa, hai tay vịn lên thành ghế, lộ lưng; (2) sát trùng da; (3) dùng kim thô đã khử trùng, chích dọc bề mặt da vùng điều trị dài khoảng 0,2–0,3cm, rồi đưa sâu vào dưới da chích đứt hoàn toàn các sợi trắng; (4) sát trùng bằng cồn iốt, đắp gạc vô trùng và dán ngoài bằng băng dính. Huyệt lấy: Thiên đột, Đản trung, Định suyễn, Ngoại định suyễn, Phế du. Mỗi lần chọn 2–3 huyệt, nếu chưa khỏi, sau 2–3 tuần có thể làm lại với vị trí khác.
Các phương pháp dược thiện thường dùng trị hen phế quản:
(1) Nhau thai người 1 cái, lá thông xanh 120g, đường phèn 120g, rượu vàng 60g. Nhau rửa sạch ngâm 1 đêm, nấu với lá thông đến nhừ, thêm đường phèn và rượu đun nhỏ lửa, bỏ lá thông, chia nhiều lần ăn, trị hen thể hư.
(2) Phổi lợn 1 cái, rửa sạch cắt miếng, Bán hạ, Trần bì, Bạch giới tử mỗi vị 3g bọc vải, nấu chung với phổi lợn đến nhừ, ăn thịt uống nước, trị hen.
(3) Nhân hồ đào 2 quả, hạnh nhân 1 nhúm nhỏ, nhân hạt dưa 60g, cuống tỏi dài 10cm, sắc uống, mỗi ngày 1 thang, trị hen.
(4) Nhau thai bò 1 cái, hạnh nhân ngọt 5g, hạnh nhân đắng 2g, gừng sống 3 lát, táo đỏ 3 quả, rượu vừa đủ. Nhau bò rửa sạch ngâm 12h, trụng nước sôi, cắt miếng xào sơ với dầu nóng, thêm rượu vàng và nước gừng xào tiếp, cho hạnh nhân, gừng, táo và nước, ninh trong nồi đất đến chín nhừ ăn. Bài này có công dụng nhuận phế, chỉ khái, dưỡng huyết, bổ tinh, đại bổ nguyên khí, trị hen, lao suy ho lâu ngày, viêm phế quản mạn người già.
(5) Lá dâu sương, đường phèn, nhân lạc mỗi thứ 12g, nấu đến khi nhân lạc mềm nhừ, bỏ lá dâu, ăn nhân lạc, mỗi ngày 1 thang, trị hen.
(6) Trà 5g, vỏ quýt 3g, hoa Khoản đông 4g, hãm nước sôi uống thay trà, mỗi ngày 1 thang, tiêu đàm, chỉ khái, bình suyễn, trị hen, viêm phế quản, ho.
Cách dùng liệu pháp đắp thuốc ngoài da trị hen phế quản:
Thường thực hiện vào mùa hè để lấy ý nghĩa “trị bệnh mùa đông từ mùa hè”, là phương pháp điều trị hen cổ truyền có hiệu quả khá rõ rệt. Phương pháp này được ghi đầu tiên trong sách “Trương thị y thông” đời Thanh của Trương Lộ, gọi là phương pháp bôi Bạch giới tử. Dùng Bạch giới tử 21g, Diên hồ sách 12g, Cam toại 12g, Tế tân 21g, tán thành bột mịn, trộn đều với nước gừng 120g làm thành 6 miếng bánh thuốc. Đặt bánh thuốc lên vải, trộn thêm xạ hương 1,5g, đặt giữa bánh thuốc rồi dán lên hai bên huyệt Bách lao, Phế du, Cao hoang, mỗi lần đắp 2 giờ, vào 3 kỳ đầu, giữa và cuối của đợt đại phục (tức mùa hè nóng nhất). Phương pháp này thường có hiệu quả rõ rệt và được hậu nhân phát triển thêm nhiều biến thể.
Bệnh viện Quảng An Môn Bắc Kinh đã cải tiến phương pháp bôi Bạch giới tử nguyên bản như sau: dùng Bạch giới tử sao 30g, Diên hồ sách 30g, Cam toại 15g, Tế tân 15g, tán bột mịn, hòa đều với nước gừng, đắp lên các huyệt song Phế du, song Tâm du, song Cách du, mỗi lần 4–6 giờ, mỗi năm đắp vào ba đợt đầu, giữa và cuối mùa nóng (phúc thiên), liên tục trong 3 năm. Do quá trình thực hiện khá phức tạp, Cao Thế Hùng và cộng sự đã cải tiến dạng thuốc, bào chế thành cao dán giống như cao su gọi là “Xạ hương định suyễn cao”, giữ nguyên công thức và phương pháp đắp, chỉ kéo dài thời gian đắp lên 24 giờ. Qua theo dõi hiệu quả điều trị trên 2035 ca hen, nhận thấy tác dụng tốt nhất với viêm phế quản mạn và hen phế quản, kế đến là khí phế thũng và tâm phế, hiệu quả gần và xa đều tốt, hiệu quả không khác biệt đáng kể trước và sau cải tiến dạng thuốc. So sánh các chỉ số kiểm tra khách quan trước và sau điều trị cho thấy: nồng độ IgA, IgG, IgM trong máu và dịch bóng nước da tăng rõ, IgE giảm rõ, tỷ lệ cAMP/cGMP thay đổi, chức năng thông khí phổi được cải thiện, nồng độ cortisol máu tăng rõ. Pháp này có tác dụng “trị bệnh mùa đông từ mùa hè”, “phù chính cố bản”, ngăn ngừa tái phát.
Trương Quang Lễ báo cáo: dùng phương pháp bôi Bạch giới tử đắp vào mùa nóng điều trị 1000 ca hen, tổng hiệu quả đạt 98%. Chu Tứ Xuân sử dụng phương pháp cao “Định suyễn” đắp huyệt kết hợp thuốc uống điều trị hen thể hàn ở người cao tuổi 22 ca, cao này gồm Đương quy, Xuyên khung, Bối mẫu, Nhục quế, Tế tân, Trần bì, Hồng hoa… Chọn huyệt song Phế du, song Thận du (dùng khi thận không nạp khí gây suyễn), trước khi đắp dùng gừng tươi bôi vào huyệt, mỗi lần dán 1 miếng/1 huyệt, mỗi lần dán 2 ngày, 4 lần là 1 liệu trình, đồng thời uống Lục tử định suyễn hoàn (gồm Tô tử sao, Bạch giới tử, Ngũ vị tử, Hạnh nhân, Bán hạ pháp, Bạch quả, Ma hoàng, Tế tân, Trần bì, tất cả tán mịn làm hoàn). Trong 22 ca có 13 ca hiệu quả rõ, 5 ca có hiệu quả, 4 ca không hiệu quả, tổng hiệu quả 81,8%.
Diêu Vân Nhâm báo cáo: dùng bánh thuốc trộn thêm bột Lục thần hoàn đắp huyệt điều trị 347 ca hen, tổng hiệu quả 89,3%. Trương Kỳ Nguyên cho rằng mấu chốt thành công của phương pháp đắp thuốc là phân biệt rõ hư thực hàn nhiệt của hen, sau đó mới xét đến thời điểm điều trị. Thể hư hàn dùng Ma hoàng, Quế chi, Bạch giới tử, Tế tân, Cam toại; thể thực nhiệt dùng Thạch cao, Hạnh nhân, Tang bạch bì, Hoàng cầm. Huyệt thường dùng gồm Hoa cái, Đản trung, Cao hoang, Cách du, Đại chùy, Phế du. Điều trị 172 ca, hiệu quả đạt 89,6%. Giang Minh Vọng cũng cho rằng nên chia hàn suyễn và nhiệt suyễn khi đắp thuốc. Hàn suyễn dùng Ma hoàng, Bán hạ, Cát cánh, Bạch thược, Can khương, Tế tân, Ngũ vị tử, Quế chi, Bạch giới tử; nhiệt suyễn dùng Ma hoàng, Tế tân, Can khương, Ngũ vị tử, Bán hạ, Cam thảo sống, Hạnh nhân, Cát cánh, Thạch cao sống, Giới tử sống, đều hòa với nước gừng, đắp huyệt. Điều trị 90 ca hen, tổng hiệu quả 86,6%.
Thư Trung Dân báo cáo: dùng cao Ma hoàng đắp huyệt điều trị 288 ca hen, cao gồm Ma hoàng, Hồ tiêu trắng, Chì đơn, Dầu mè, tổng hiệu quả đạt 96,2%. Hứa Tế Quần dùng cao Xạ hương định suyễn, Đổng Trưng dùng cao Tiêu suyễn, đắp vào mùa phục thiên, phát hiện trước và sau điều trị các chỉ số như số lượng tuyệt đối bạch cầu ái toan, chức năng phổi, globulin miễn dịch, IgE đều có sự khác biệt rõ rệt; đồng thời cũng quan sát thấy thời gian đắp càng lâu, số lần đắp càng nhiều thì hiệu quả càng tốt.
Cách dùng khí công trị hen phế quản:
Cung Bân và cộng sự báo cáo: Viện nghiên cứu Trung y Thượng Hải thử nghiệm dùng máy thông tin khí công ZY–100 trị hen, tổng hiệu quả 83,9%, trước và sau điều trị đều thấy sóng hô hấp và tiếng rít phế quản thay đổi rõ, trong quá trình điều trị người bệnh có cảm giác nóng, tê, thư giãn, rung động, có thể ra mồ hôi. Phân tích cho thấy hiệu quả có liên quan đến tâm lý, cảm xúc và trạng thái nhập tĩnh của người bệnh, cơ chế còn chưa rõ.
Sử dụng phương pháp dẫn cảm thông kinh khi nhập tĩnh điều trị 53 ca hen phế quản, dùng máy điện châm G–6805 kích thích các huyệt Hợp cốc, Túc tam lý, Cao hoang, Đản trung, Phế du, Thiên đột, Định suyễn, Đại chùy, kết quả không chỉ làm triệu chứng thuyên giảm mà nhiều chỉ số sinh lý cũng được cải thiện.
Cách dùng châm Tứ phong trị hen phế quản:
Châm vào khe giữa đốt ngón tay giữa của bốn ngón (trừ ngón cái), sâu đến sát xương, sau khi rút kim thì nặn ra ít dịch nhầy vàng trắng, mỗi 3–7 ngày châm 1 lần, thường sau 2–3 lần có thể kiểm soát cơn hen.
Cách dùng phương pháp tiêm huyệt vị điều trị hen phế quản: Diệp Thụ Đường báo cáo: dùng dung dịch tiêm mạt bụi tiêm vào huyệt vị điều trị 82 ca hen, tổng hiệu quả đạt 95,1%.
Cách dùng phương pháp vùi thuốc và rạch huyệt vị điều trị hen phế quản: Trạm Quang Tôn báo cáo: dùng phương pháp vùi tổ chức não thỏ vào huyệt vị điều trị 58 ca hen, tổng hiệu quả 65,6%. Ông cho rằng chế phẩm này chứa nhiều hormone và protein dị thể, có tác dụng kích thích kéo dài tại huyệt vị, giúp tăng cường khả năng thích ứng và chức năng miễn dịch của cơ thể. Bì Thuần Viêm báo cáo: dùng phương pháp rạch huyệt điều trị 200 ca hen, tỷ lệ khỏi bệnh đạt 90,5%. Trần Tụng Phương báo cáo: tại các huyệt Đản trung, Ngư tế (nam bên trái, nữ bên phải, chỉ lấy một bên), rạch đến lớp chân bì, cắt bỏ một ít mỡ dưới da, vùi vào đó hạt tiêu trắng rồi dán kín, có hiệu quả cả trong thời kỳ phát tác lẫn thời kỳ yên tĩnh của bệnh hen.
Cách dùng phương pháp thuốc bôi điều trị hen phế quản: Trần Văn Bá bào chế dạng thuốc bôi định suyễn mới gồm Ma hoàng, Hạnh nhân, Trần bì, Bán hạ, Đào nhân… Sau khi được 5 bệnh viện tại Bắc Kinh phối hợp lâm sàng trên 351 ca hen thể hàn, không có bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, tâm phế hay suy tim kèm theo, phương pháp điều trị như sau: mỗi lần dùng 10–20ml thuốc, đầu tiên bôi lên lưng, dùng tăm bông chấm thuốc bấm vào huyệt Định suyễn, Phế du, rồi xoa theo chiều kim đồng hồ 100 lần; sau đó chấm thuốc xoa lên ngực trước, tương tự bấm vào huyệt Đản trung, Thiên đột. Sau khi xoa 30 phút nếu chưa cải thiện thì lặp lại một lần, nếu sau 2 lần không hiệu quả thì coi là vô hiệu. Kết quả cho thấy nhóm điều trị bằng thuốc bôi hiệu quả cao hơn đáng kể so với nhóm đối chứng tiêm aminophylline bắp (90,03% so với 29,41%). Ngoài ra, còn quan sát các chỉ số như nhịp mạch, tiếng rít phế quản và phân loại hội chứng, cho thấy thuốc bôi định suyễn có tác dụng rõ rệt trong giảm nhịp mạch, làm giảm hoặc mất tiếng rít phế quản, hiệu quả tốt với hen thể hàn, thấy rõ sau 30 phút bôi thuốc, có thể có tác dụng giãn phế quản rõ chỉ sau 10 phút.
Cách dùng phương pháp khẩu trang điều trị hen phế quản: Thái Xán Lâm báo cáo: Trương Linh Lệ và cộng sự tại Bệnh viện Không quân Nam Kinh áp dụng “khẩu trang chống dị ứng” (gồm Bạc hà, Thương nhĩ tử, Cúc hoa, Địa long…) đeo trước khi phát bệnh hoặc trước khi tiếp xúc dị nguyên điều trị 120 ca hen dị ứng, hiệu quả đạt 83,58%.
Tiến triển nghiên cứu biện chứng luận trị hen phế quản: Biện chứng luận trị là phương pháp điều trị truyền thống được đa số y gia tuân thủ, trên cơ sở phân biệt hư thực hàn nhiệt, rõ ràng ngọn gốc, khẩn cấp, đa số tuân theo nguyên tắc “lúc phát thì trị ngọn, lúc yên thì phù chính”, tuy nhiên trong phương pháp điều trị lại có điểm riêng, có người chú trọng trừ tà là chính, có người nhấn mạnh bổ hư là trọng, có người phân loại theo biểu lý hư thực, có người chia giai đoạn phát và yên, tuy trọng điểm khác nhau nhưng đều đạt hiệu quả lâm sàng đáng kể.
(1) Trị theo phân loại biểu – lý, hư – thực:
① Trị ngọn thanh phế, trị gốc bổ thận – Lý Truyền Phương báo cáo: khi phát bệnh thì dùng bài thuốc chính thanh phế như Ma hoàng, Đình lịch tử, Tế tân, Xạ can, Ngũ vị tử, Ô mai, Anh túc xác, Hoàng kỳ… gia giảm theo chứng; khi vào giai đoạn yên thì trị gốc bổ thận bằng bài Tham hợp tán, nếu tỳ hư dùng Lục quân tử thang, thận dương hư dùng Kim quỹ thận khí hoàn, thận âm hư dùng Lục vị địa hoàng hoàn… Tổng cộng điều trị 30 ca, hiệu quả đạt 93,3%.
② Công bổ kiêm thi, cương nhu tương tế – Lê Bỉnh Nam cho rằng hen thuộc bản hư tiêu thực, nên trị nên vừa công vừa bổ, cương nhu kết hợp. Khi phát bệnh dùng bài số 1 (gồm Ma hoàng, Quế chi, Mao đông thanh, Tô tử, Đình lịch tử, Nga quản thạch, Ngũ vị tử, Đảng sâm, Bạch truật, Cam thảo sao), lúc yên dùng bài số 2 (gồm Thục địa hoàng, Đương quy, Đảng sâm, Bạch truật, Phục linh, Cam thảo sao, Trần bì, Bán hạ, Ngũ vị tử…), tùy chứng thêm bớt.
(2) Trị phân kỳ phát tác– hoãn giải:
① Tiền Lâm đề xuất chia giai đoạn phát thành 4 thể – thể phong nhiệt phạm phế nhẹ dùng Tang cúc ẩm hợp Tang hạnh thang, thể nặng dùng Ma hạnh thạch cam thang hợp Tả bạch tán; thể phong hàn đàm suyễn dùng Tiểu thanh long thang gia giảm; thể tỳ hư đàm thấp dùng Linh quế truật cam thang hoặc Linh quế dĩ cam thang hợp Nhị trần thang hóa giải; thể phế hư khái suyễn dùng Quế chi gia Hậu phác hạnh tử thang. Giai đoạn yên dùng Kiện tỳ ích phế tán (gồm Hoàng kỳ, Bạch truật, Phục linh, Trần bì, Bán hạ, Hạnh nhân, Cam thảo sao, Ngũ vị tử, chế thành tán cô đặc uống).
② Trương Phối Cừu, Lưu Quốc An và cộng sự báo cáo: thời kỳ phát tác và thời kỳ ổn định của bệnh này đều phân thành ba thể theo biện chứng luận trị, áp dụng các phương pháp điều trị khác nhau. Giai đoạn phát tác: (1) Thể hàn đàm ứ trệ ở phổi, điều trị bằng Tiểu thanh long thang gia giảm; (2) Thể nhiệt đàm trở phổi, dùng Tả bạch tán hợp Ma hạnh thạch cam thang gia giảm; (3) Thể khí uất đàm trệ, dùng Tam tử dưỡng thân thang hợp Nhị trần thang gia giảm. Giai đoạn ổn định: (1) Phế khí hư tổn, dùng Sinh mạch tán hợp Tô tử giáng khí thang gia giảm; (2) Tỳ khí hư nhược, dùng Lục quân tử thang gia giảm; (3) Thận không nạp khí, nếu thiên về dương hư thì ôn bổ thận dương kiêm nạp khí, dùng Thận khí hoàn hợp Tham hợp tán; nếu thiên về âm hư thì tư bổ thận âm kiêm nạp khí, dùng Thất vị đô khí hoàn hợp Tham hợp tán.
③ Mã Nhân Mỹ báo cáo: Vương Chính Công điều trị bệnh này, trong giai đoạn phát tác dùng phép tuyên phế thấu tà, thường dùng Tam áo thang hợp Chỉ thấu tán, thiên về phong nhiệt thì gia Ngưu bàng tử, Tang bạch bì, Tiền hồ; thiên về phong hàn thì gia Kinh giới, Quế chi, Tô tử; thiên về đàm nhiệt thì gia Sinh thạch cao, Ngân hoa, Liên kiều, Hoàng cầm; thiên về đàm thấp thì gia Bán hạ, Trần bì, Phục linh. Giai đoạn ổn định dùng phép phù chính bồi bản, thanh thấu dư tà, bài thuốc gồm Cam thảo sao, Nam sa sâm, Bắc sa sâm, Đương quy, Bạch thược, Bạch truật, Tằm giáng, Bách bộ, Ngưu bàng tử, Bách tiền, nếu thiên về phế khí hư thì gia Đảng sâm, Hoàng kỳ, Sơn dược; thiên về phế âm hư thì gia Mạch môn, Bách hợp, Ngũ vị tử; thiên về đàm thấp thì gia Bán hạ, Trần bì, Viễn chí; phế có tà nhiệt thì gia Lô căn, Cam thảo. Trong 143 ca điều trị, kiểm soát triệu chứng rõ rệt ở 16 ca, cải thiện triệu chứng ở 71 ca.
(3) Thiên trọng trừ tà trị tiêu:
① Tuyên phế hóa đàm – Hạ Thừa Nghĩa dùng bài Ma hạnh nhân vi thang điều trị 82 ca hen, gồm Ma hoàng, Hạnh nhân, Thạch vi, Tằm giáng, Địa long; thiên về nhiệt gia Thạch cao, Tang bạch bì, Chiết bối mẫu, Thiên trúc hoàng; thiên về hàn gia Bán hạ, Trần bì, Tô tử, Bạch giới tử; kiêm biểu chứng gia Tang diệp, Cát cánh, Tiền hồ, Ngưu bàng. Tổng hiệu quả đạt 86,6%.
② Thanh phế hóa đàm – Quản Nhật Quân điều trị 80 ca hen, bài thuốc cơ bản gồm Ma hoàng, Táo giác tử, Tang bạch bì, Cam thảo, Thạch cao, Hạnh nhân, Hoàng cầm, Đông qua tử, Đại hợp tán, gia giảm tùy chứng, tổng hiệu quả đạt 93,75%.
③ Giáng khí hóa đàm – Tô Mai Giả dùng bài Ma hạnh nhị tam thang điều trị 23 ca hen, gồm Ma hoàng, Hạnh nhân, Bán hạ, Tô tử, Lai phục tử, Trần hồng, Phục linh, Bạch giới tử, Trà diệp, Hắc tử, Cam thảo, gia giảm tùy chứng, hiệu quả đạt 91,3%.
④ Thông phủ giáng khí – Lý Kính Đảng chủ trương điều trị hen bất kể mới lâu, hàn nhiệt, hư thực đều phải thông phủ làm đầu, hiệu quả vượt trội. Cảm hàn không đổ mồ hôi mà suyễn dùng Tam áo thừa khí thang; cảm phong ra mồ hôi mà suyễn dùng Quế chi thừa khí thang; khí gấp đàm nhiều mà suyễn dùng Tam tử thừa khí thang; tâm quý, tức ngực mà suyễn dùng Đan sâm thừa khí thang; dương hư ra mồ hôi mà suyễn dùng Phụ tử thừa khí thang; dương thịnh ra mồ hôi nhiều mà suyễn dùng Bạch hổ thừa khí thang.
(4) Thiên trọng phù chính bổ hư:
① Bổ thận pháp – Thiệu Quế Trân chủ trương trị hen bằng phép bổ thận, bài cơ bản gồm Thục địa hoàng, Đan bì, Trạch tả, Phục linh, Hoài sơn dược, Sơn thù du, Ngũ vị tử, Bổ cốt chỉ, Hồ đào nhục, gia giảm tùy chứng, điều trị 31 ca, hiệu quả đạt 96,7%.
② Ôn bổ Đốc mạch – Triệu Thăng dùng phép ôn bổ Đốc mạch điều trị hen, kèm biện chứng gia giảm. Ôn Đốc mạch dùng Lộc nhung, Tử hà sa, Cáp giới, Hải mã; bình suyễn dùng Ma hoàng, Tô tử, Đình lịch tử, Địa long; khu đàm dùng Chế đảm tinh, Chiết bối mẫu, Trần hồng, Trúc nhự; hoạt huyết dùng Đào nhân, Xuyên khung, Hồng hoa; bình xung dùng Tử thạch anh, Đại giả thạch, Long cốt, Mẫu lệ.
③ Bổ huyết ích khí – Huệ Trung Đạo báo cáo: dùng Tứ vật thang gia giảm trị hen (gồm Đảng sâm, Đương quy, Bạch thược, Thục địa hoàng, Sinh địa hoàng, Ngũ vị tử, Cam thảo), gia giảm theo chứng, điều trị 52 ca, hiệu quả đạt 92,3%.
④ Phù chính cố bản – Phan Tồn Mai áp dụng phép phù chính cố bản điều trị 40 ca hen, bài cơ bản gồm Hoàng kỳ, Đảng sâm, Hoàng cầm, Hoàng tinh, Tiên hạc thảo, Cam thảo, gia giảm tùy chứng, đồng thời kiểm tra các chỉ số: thụ thể glucocorticoid của bạch cầu ngoại vi (GCR), nồng độ cAMP huyết tương và tỉ lệ cAMP/cGMP trước – sau điều trị, kết quả đều cải thiện rõ rệt.
– Điền Lệnh Quần căn cứ biện chứng chia pháp bình suyễn thành các pháp: tuyên phế, công hạ, khu đàm, khoan hung, hoạt huyết, giải kinh, bổ hư.
① Pháp tuyên phế bình suyễn Tán hàn bình suyễn – Thích hợp với các trường hợp phong hàn ngoại bế, hàn ẩm tương kích, khí cơ bất lợi gây hen suyễn phát tác nhiều lần, ho đàm loãng trong, rêu lưỡi trắng trơn, mạch phù khẩn hoặc phù huyền. Điều trị bằng Xạ can ma hoàng thang; nếu chủ yếu do ẩm ứ chọn Tiểu thanh long thang; nếu chủ yếu do hàn thì dùng Tam áo thang; hàn nặng thì gia thêm thuốc Ho suyễn hoàn. Thuốc thường dùng: Ma hoàng, Quế chi, Tế tân, Xạ can, Hạnh nhân, Hậu phác, Tiền hồ, Bán hạ, Toan phục hoa.
Thanh nhiệt bình suyễn – Thích hợp với tà nhiệt uất kết ở phổi, đàm nhiệt giao trở, khí đạo tắc nghẽn gây suyễn cấp khí nghẽn, họng có tiếng rít, đàm vàng đặc, miệng khát thích uống, rêu vàng, mạch phù sác hoặc hoạt sác. Điều trị bằng Việt tỳ gia truật thang, Ma hạnh thạch cam thang; nếu suyễn nặng dùng Định suyễn thang. Thuốc thường dùng: Hoàng cầm, Qua lâu, Đình lịch tử, Thạch vi, Địa long, Khổ sâm, Đan bì, Tang bạch bì, Ngư tinh thảo.
② Pháp công hạ bình suyễn – Thích hợp với đại tiện táo kết, khí suyễn không hạ, hen suyễn thở thô bụng trướng, rêu vàng, mạch trầm thực có lực. Điều trị bằng Hậu phác đại hoàng thang hoặc dùng các vị như Đình lịch tử, Đại hoàng, Hạnh nhân, Tang bạch bì. Cũng có thể dùng bài Khống đàm đan (Bạch giới tử, Đại kích, Cam toại mỗi vị 30g, trộn với bột gạo làm viên to bằng hạt ngô đồng, mỗi lần uống 1g vào sáng sớm khi đói, trẻ em giảm liều).
③ Pháp khứ đàm bình suyễn – Thích hợp với tỳ hư sinh đàm, tắc nghẽn khí đạo, phế mất chức năng tuyên giáng gây suyễn thở gấp, nhiều đàm dễ nôn, đầy trướng vùng thượng vị, ăn kém, rêu nhớt dính, mạch hoạt. Điều trị bằng Tô tử giáng khí thang, Nhị trần thang. Thuốc thường dùng: Lai phục tử, Tô tử, Bạch giới tử, Đình lịch tử, Bán hạ, Trần bì, Phục linh, Chiết bối mẫu.
④ Pháp khoan hung bình suyễn – Thích hợp với khí uất đàm kết, phế khí không giáng, biểu hiện: suyễn tức đau ngực lưng, khí bế ở ngực, thở ngắn, rêu trắng nhớt, mạch huyền. Điều trị bằng Qua lâu tiết bạch bán hạ thang. Thuốc thường dùng: Qua lâu, Tiết bạch, Hậu phác, Giáng hương, Toan phục hoa, Xương bồ, Trần bì, Thanh bì, Phật thủ.
⑤ Pháp hoạt huyết bình suyễn – Thích hợp với khí huyết ứ trở gây suyễn, đau ngực ho ra huyết, sắc mặt xanh, môi tím, lưỡi có điểm ứ, mạch sáp. Trong pháp bình suyễn có thể phối hợp Hồng mã hợp tễ (Hồng hoa, Mã tiên thảo, Kê huyết đằng, Đào nhân). Thuốc thường dùng: Trạch tả, Xương bồ, Côn bố, Đan sâm, Trắc bá diệp, Đào nhân, Đan bì, Quế chi, Ngưu tất.
⑥ Pháp giải kinh bình suyễn – Chủ phương là Thược dược cam thảo thang (Thược dược, Cam thảo mỗi vị 30g), kết hợp biện chứng gia giảm. Thuốc thường dùng: Ma hoàng, Bình địa mộc, Hồ thoái diệp, Xương bồ, Thạch vi, Đình lịch tử, Tân lang, Thiền y, Địa long, Câu đằng, Ô mai.
⑦ Pháp bổ hư bình suyễn
1/Bổ phế – Thích hợp với suyễn thở gấp, tự hãn sợ gió, lưỡi đỏ rêu ít, mạch tế sác. Dùng Lục quân tử thang hợp Sinh mạch tán.
2/ Bổ tỳ – Thích hợp với suyễn thở gấp, nhiều đàm ngực tức, ăn ít người gầy, rêu trắng, mạch tế nhược. Dùng Lục quân tử thang hợp Tam tử dưỡng thân thang.
3/Bổ thận – Thích hợp với suyễn thở gấp, thở ra nhiều hơn hít vào, động thì suyễn nặng. Nếu thuộc thận âm hư thì dùng Mạch vị địa hoàng hoàn, Lục vị địa hoàng hoàn, Sinh mạch tán; nếu thuộc thận dương hư thì dùng Kim quỹ thận khí hoàn, Hà xa đại tạo hoàn, Hắc thi đan.
Tiến triển nghiên cứu đơn phương và phương thuốc kinh nghiệm trong điều trị hen phế quản:
(1) Đơn phương:
① Khổ sâm – Thực nghiệm trên chuột lang bị hen cho thấy nước sắc khổ sâm có tổng alcaloid và alcaloid kết tinh có tác dụng bình suyễn rõ rệt, tỷ lệ bình suyễn trên 90%, duy trì hiệu quả lâu, tổng hiệu quả đạt 86,5%.
② Khổ cam thảo – Có tác dụng kích thích β-receptor của cơ trơn phế quản, chống lại sự co thắt cơ trơn do acetylcholine gây ra, có thể ức chế hình thành và phóng thích các chất phản ứng chậm trong tế bào dưỡng của mô phổi mẫn cảm. Dạng viên và tiêm của muối hydrobromide khổ cam thảo điều trị viêm phế quản mãn tính thể hen có hiệu quả trên 90%.
③ Hồng hãn liên – Chất quercetin và hyperoside trong dược liệu có tác dụng giãn phế quản, giảm ho, long đàm, chống dị ứng và có tác dụng chống viêm nhất định. Dạng viên chiết xuất hồng hãn liên uống ngày 3 lần, mỗi lần 3–6 viên.
④ Quảng địa long – Thành phần chính là acid succinic, có tác dụng khoan hung, hóa đàm, bình suyễn, an thần. Đã có báo cáo cho thấy dịch chiết địa long có tác dụng tức thì trong cơn hen phế quản cấp.
⑤ Đương quy – Vương Tiêu Tài báo cáo rằng chế phẩm từ thành phần ligustilide trong tinh dầu bay hơi đương quy có tác dụng cải thiện thông khí và tình trạng thiếu oxy, điều trị 51 ca hen, tổng hiệu quả đạt 90,2%, tác dụng bình suyễn diễn ra chậm mà ổn định.
⑥ Dầu Sơn thương tử – Tinh dầu Sơn thương tử tại Hồ Nam được chiết xuất từ quả của thực vật họ Long não, chứng minh trên chuột lang có khả năng chống co thắt cơ trơn khí quản do acetylcholine hoặc histamin, tăng lưu lượng phổi và có tác dụng chống dị ứng.
Ngoài ra, các vị thuốc đơn phương như Thiếu niên hồng, Kim diệp thanh lan, Dương kim hoa, Tiêu mục, Mẫu kinh tử, Hoàng cầm, Hàm bà thảo… dùng sắc uống đều có tác dụng bình suyễn rõ rệt.
(2) Phương thuốc kinh nghiệm
① Dạng thang
1/ Tiệt Suyễn phương gồm Phật nhĩ thảo, Lão quán thảo, Khai kim tỏa, Hợp hoan bì, Phòng phong, Toàn qua lâu, Toàn phú hoa, Biệt đào can. Do Khương Xuân Hoa tổng hợp từ y học cổ truyền Nhật Bản và Triều Tiên mà ra, có hiệu quả tốt trong việc khống chế cơn hen suyễn.
2/ Phương Bình Suyễn Cố Bản gồm Thạch xương bồ, Hoàng kinh tử, Đương quy, Sinh hoàng kỳ, Tiên linh tỳ, Thục nữ trinh… Quách Hân và cộng sự báo cáo: Dùng chuột lang làm đối tượng thực nghiệm để quan sát tác dụng cải thiện phản ứng đường thở, giải co thắt, chống dị ứng của bài thuốc này. Kết quả cho thấy bài thuốc có thể làm giảm sức căng bề mặt ở dải khí quản và phổi đã mẫn cảm, kéo dài thời gian tiềm tàng của cơn co thắt hen, có tác dụng ức chế hiện tượng tế bào dưỡng phóng hạt và thử nghiệm dị ứng da thụ động trên chuột.
3/ Mậu Sài Thang gồm Quế chi 15g, Bạch thược 15g, Bán hạ 25g, Ngũ vị tử 15g, Khổ sâm 15g, Thuyền y 15g, Ma hoàng 10g, Cam thảo 10g, Xuyên tế tân 10g, Địa long 10g, Hoàng kỳ 20g, Sài hồ 20g, Hoàng cầm 20g, Can khương 6g. Tiêu Trạch Dân dùng bài thuốc này điều trị 83 ca hen lạnh, kết quả: Khỏi 38 ca, hiệu quả rõ 29 ca, có hiệu quả 11 ca, không hiệu quả 5 ca, triệu chứng biến mất hoặc giảm chiếm 45,6%.
1/ Tử Hà Tán gồm Tử hà xa, Hà giết, Cát cánh, Trần bì. Trương Gia Như dùng bài này điều trị 58 ca hen suyễn, khỏi 24 ca, hiệu quả rõ 29 ca, tiến triển 5 ca.
2/ Thược Dược Cam Thảo Tán gồm Thược dược, Cam thảo tỉ lệ 2:1, nghiền mịn, uống mỗi ngày 30g. Lý Phú Sinh báo cáo: bài thuốc có hiệu quả bình suyễn nhanh, điều trị 35 ca, sau uống thuốc 30–120 phút thấy hiệu quả rõ ở 180 ca, hiệu quả 25 ca, tổng hiệu quả đạt 94,3%.
3/ Giáng Khí Định Suyễn Tán gồm Ma hoàng, Đình lịch tử, Tang bạch bì, Tô tử, Bạch giới tử, Trần bì. Chung Nam Sơn dùng bài này điều trị 8 ca hen suyễn, đồng thời lập nhóm đối chiếu dùng riêng Ephedrin để quan sát ảnh hưởng đến chức năng thông khí, mạch, huyết áp; phát hiện bài thuốc có tác dụng giãn phế quản kéo dài hơn so với ephedrin đơn lẻ mà không tăng tác dụng phụ trên hệ tuần hoàn.
1/Man Đà La Hoàn gồm Man đà la, Bằng sa, Viễn chí, Cam thảo, Thạch cao.
2/Hàn Suyễn Hoàn gồm Bạch tì, Đạm đậu xị, Băng sa. Lưu Tăng Quang dùng Man đà la hoàn điều trị giai đoạn phát cơn hen, Hàn suyễn hoàn điều trị giai đoạn thuyên giảm, tổng điều trị 80 ca, tổng hiệu quả đạt 91,3%.
3/Mẫu Kinh Tử Hoàn gồm Mẫu kinh tử, Hoài sơn dược, Tử hà xa. Vương Chấn Vũ dùng bài này ôn bổ tam tạng để điều trị hen do thận dương hư, đàm trọc nội sinh, khí đạo bế tắc, đạt hiệu quả tốt.
4/Châu Bối Định Suyễn Hoàn gồm Trân châu, Xuyên bối mẫu, Ngưu hoàng, Xạ hương, Tế tân, Nhân sâm, Nhục quế, Aminophyllin, Isopropylamin. Lý Quảng Long dùng bài này điều trị 275 ca hen, tổng hiệu quả đạt 86,5%, trong đó theo dõi 104 ca trong 6–8 tháng, hiệu quả tổng đạt 96,2%.
5/Tiêu Suyễn Cao gồm Ma hoàng, Cam thảo, Bạch quả, Hạnh nhân, Xuyên bối mẫu, Mật ong. Từ Truyền Canh dùng bài này điều trị 57 ca hen, thông thường sau 5 ngày dùng thuốc đã có thể khống chế triệu chứng.
6/Trị Suyễn Cố Bản Thang Dược gồm Hoàng kỳ, Phụ tử, Ngũ vị tử, Bạch quả, Bạch truật, Đại táo, Cam thảo. Chu Đại Niên báo cáo: dùng bài thuốc này điều trị hen có thể thu được hiệu quả tương đối tốt.
1/Trấn Bình Phiến gồm Dương kim hoa, Viễn chí, Cam thảo. Bệnh viện Long Hoa Thượng Hải dùng bài này điều trị hen đạt hiệu quả 80%.
2/Hao Linh Phiến gồm Địa long, Tô tử, Xạ can, Khổ sâm, Bạch tiên bì, Ma hoàng, Trắc bá diệp, Hoàng cầm, Lưu ký nô, Cam thảo, Bối mẫu. Vương Liệt báo cáo: dùng bài này điều trị 446 ca hen, tổng hiệu quả đạt 91,47%.
3/Suyễn Thấu Ninh Phiến gồm Địa long, Bạch quả, Khổ sâm, Hạnh nhân, Phục linh, Trần bì, Hoàng cầm, Tang bạch bì, Bạch tiền, Cam thảo. Vương Ngọc báo cáo: dùng bài này điều trị 308 ca hen, tổng hiệu quả đạt 94,8%.
4/Ôn Dương Phiến gồm Phụ tử, Sinh địa hoàng, Thục địa hoàng, Tiên linh tỳ, Bổ cốt chỉ, Thỏ ty tử. Thẩm Tự Quân, Hồ Quốc Nhượng, Hứa Đức Thịnh lần lượt báo cáo: dùng Ôn dương phiến điều trị 5 đợt bệnh nhân hen với tổng cộng 284 ca, tỷ lệ hiệu quả rõ đạt từ 63,4% đến 75%, đồng thời tiến hành kiểm tra nội tiết và miễn dịch, suy đoán tác dụng của thuốc là nhờ điều chỉnh toàn diện hệ thống thần kinh – nội tiết – miễn dịch thông qua vùng dưới đồi.
5) Viên Hải Châu Định Suyễn:
Thành phần gồm: Lá hồng tử, bột trai biển, phòng phong, cam thảo, hydrochloride chlorpyramine, chlorpheniramine.
→ Nhóm Hô hấp bệnh viện Hoa Sơn Thượng Hải báo cáo: qua nhiều năm lâm sàng quan sát, hiệu quả đạt 90,3%. Đo lường bằng các thiết bị khoa học hiện đại cho thấy các chỉ số chức năng phổi được cải thiện rõ rệt trước và sau điều trị, dùng lâu dài không có tác dụng phụ.
Kinh nghiệm phòng ngừa tái phát hen suyễn
(1) Trừ tận gốc “căn nguyên tiềm ẩn”
– “Đàm ứ nằm sẵn trong phổi” là gốc rễ khiến hen suyễn tái phát. Do đó, tẩy đàm, hóa ứ để cắt gốc là chìa khóa phòng ngừa tái phát.
– Trong thời kỳ lui bệnh, phế quản vẫn còn tồn đàm cũ, đàm dai, dễ gây tắc nghẽn khí đạo, dẫn đến huyết ứ. Lâm sàng thường thấy: môi tím, tĩnh mạch dưới lưỡi giãn rộng, lưỡi tím sẫm, rêu lưỡi vàng nhớt, chứng tỏ đàm ứ chưa dứt.Theo nguyên tắc biện chứng luận trị, có thể tiếp tục dùng Tuyên Hiểu Thang để loại trừ “căn nguyên tiềm ẩn”, đạt mục đích tẩy đàm hóa ứ, điều hòa khí cơ, ngừa tái phát. Quyên háo Thang gồm: Đình lịch tử 15–20g, Kinh tử 15g, Thanh bì 15g, Trần bì 15g, Binh lang 10g, Tiên mao 10g, Sinh khương 3 lát, Sinh đại hoàng 10g (cho sau).– Nếu đàm dính khó khạc: thêm Mông thạch 20g, Hải hà khối 20g, Toàn qua lâu 20g.
– Nếu huyết ứ rõ: thêm Hồng hoa 6–10g, Đào nhân 10g, Xuyên khung 10g, 6 viên nang Thủy điệt. Về tác dụng của Thủy điệt: theo “Từ điển Trung dược đại”, thành phần chính là Hirudin – có khả năng ức chế thrombin tác động lên fibrinogen, ngăn máu đông, đồng thời tiết ra chất giống histamine giúp giãn mao mạch, cải thiện tuần hoàn, giảm co thắt khí quản, thông khí cơ, giúp điều trị tận gốc và triệu chứng. Đã bào chế thành viên nang Thủy điệt, mỗi viên chứa 0,5g bột thủy đỉa, uống mỗi lần 2–3 viên, ngày 2 lần.
(2) Phòng ngừa ngoại cảm
– Nhiều bệnh nhân trong thời kỳ lui bệnh vẫn sợ lạnh, dễ cảm, chứng tỏ dương khí hư.
– Nguyên nhân: phế dương bất túc, vệ khí không cố, bì phu sơ hở, khả năng kháng tà kém.
→ Nên ôn dương hộ vệ để nâng cao khả năng kháng tà. Dùng bài Ôn Dương Hộ Vệ Thang với người có biểu hiện phế vệ dương hư rõ rệt.
Ôn Dương Hộ Vệ Thang gồm:
Hoàn kỳ 20–30g, Chế phụ phiến 10g, Lộ lộ thông 20g, Phòng phong 15g, Quế chi 10g, Bạch thược 10g, Cam thảo chích 6g, Sinh khương 3 lát, Đại táo 6 quả, Tiên mao 15g.
– Hoàng kỳ bổ khí cố biểu, Phụ tử ôn bổ thận dương.
– Quế chi thang điều hòa dinh vệ, công bổ kiêm trị, phát tán phong hàn và củng cố tỳ vị.
– Lộ lộ thông, Phòng phong giúp trừ phong, chống dị ứng, tăng khả năng kháng dị nguyên.
→ Tác dụng: ôn dương hộ vệ, điều hòa dinh vệ, nâng cao chính khí, phòng ngoại tà xâm nhập, củng cố căn bản, ngừa tái phát.
(3) Củng cố chính khí, bổ hư
– Cổ nhân có câu: “Thuốc bổ không bằng bổ bằng ăn”, kết hợp dược trị với thực liệu trong phòng hen suyễn càng phát huy hiệu quả.
– Kinh nghiệm:
① Kiện tỳ bổ thận là chủ đạo: Tỳ khỏe sẽ không sinh đàm, cũng không bị tà xâm quanh năm.
Bài thuốc thường dùng:Hoàng kỳ 20–30g, Thái tử sâm 20g, Phòng phong 10g, Hoài sơn dược 20g, Ý dĩ nhân 20g, Phục linh 20g, Pháp bán hạ 10g, Trần bì 10g, Cam thảo chích 6g.
Nếu thiên về thận dương hư: Nên ôn bổ thận dương.
Thuốc dùng: Chế phụ phiến 10g (sắc trước), Nhục quế 3g (uống hòa), Thục địa 15g, Sơn thù nhục 15g, Hoài sơn dược 20g, Tử hà xa 10g, Lộc giao 10g (hòa tan), Câu kỷ tử 15g, Ba kích 10g, Tiên linh tỳ 10g, Tiên mao 10g, Thỏ ty tử 15g.
Nếu thiên về thận âm hư:
→ Nên tư thận nạp khí.
Thuốc dùng: Thục địa 15g, Hoài sơn dược 20g, Sơn thù nhục 15g, Mạch môn 20g, Ngũ vị tử 6g, Quy bản giao 10g (hòa tan), Hoàng kỳ 20g, Tử hà xa 10g, Trầm hương 5g, Hoàng tinh 15g.
② Thực trị với “trứng cố bản” làm chủ
Cách chế: Chuẩn bị một hũ sành hoặc bình sứ, chứa nước tiểu của trẻ khỏe mạnh hoặc chính người bệnh trong vòng 24 giờ. Lấy 7–10 quả trứng gà tươi, đánh số thứ tự lên vỏ, đập nhẹ để nứt vỏ nhưng không làm rách màng trứng. Ngâm trứng vào bình chứa nước tiểu, sao cho nước tiểu cao hơn mặt trứng khoảng 1,5cm. Thay nước tiểu mỗi ngày, liên tục ngâm 3–5 ngày (mùa hè 3 ngày, mùa đông 5 ngày) thì có thể ăn được.
Mỗi sáng lấy trứng theo thứ tự số đã đánh, bổ sung trứng mới vào vị trí đó để duy trì thứ tự nối tiếp. Một tháng là một liệu trình, ăn liên tục 3 liệu trình.
Phương pháp này dùng trong giai đoạn lui bệnh của hen suyễn nhằm ngăn ngừa tái phát. Trong thời gian ăn trứng nếu gặp cơn hen phát tác có thể phối hợp điều trị biện chứng bằng thuốc, không cần ngưng ăn trứng. Người dị ứng trứng tuyệt đối không dùng.
Giải thích:Trứng cố bản là một dạng “trị bệnh bằng thực dưỡng”.
Theo “Bản thảo cương mục”:– Lòng trắng có tính mát, màu trong; lòng đỏ có tính ấm, màu đục; trứng kết hợp cả hai, tính bình.– “Tinh bất túc bổ bằng khí” → trứng bổ khí.– “Hình bất túc bổ bằng vị” → lòng đỏ bổ huyết. Trứng điều hòa khí huyết.
Theo “Bản thảo tư biện lục”:– “Nước tiểu người” có vị mặn, tính hàn, nhập huyết, lại có khả năng hành khí, bổ âm, thanh nhiệt, tiêu ứ, tuy không lợi thủy nhưng tác dụng thanh nhiệt tiêu ứ càng rõ.“Trùng Khánh đường tùy bút” chép:– “Tiểu của trẻ nhỏ” là dược phẩm quý để tư âm, giáng hỏa, trị huyết chứng. Nghiên cứu hiện đại cho thấy: nước tiểu người chứa nhiều hoạt chất sinh học như bradykinin, urokinase, hormone,… Phương pháp ngâm trứng trong nước tiểu là một dạng chiết xuất sinh học dân gian rất khoa học, giúp hấp thu các hoạt chất sinh học vào trứng, phát huy hiệu quả trị liệu và phòng ngừa.
(4) Tuyên lợi phế khiếu
Phần lớn người bệnh hen có kèm theo các bệnh lý mũi xoang – đây vừa là yếu tố khởi phát, vừa là yếu tố ảnh hưởng kết quả điều trị, không thể bỏ qua. Việc trị liệu kèm theo bệnh lý mũi giúp nâng cao hiệu quả phòng tái phát. Phương pháp tuyên thông tỵ khiếu dùng cho người có bệnh lý mũi xoang kèm theo (như viêm mũi dị ứng). Phép trị là khu phong, thông khiếu.Thường dùng: Thương nhĩ tử 15g, Tân di hoa 10g, Phòng phong 15g, Lộ lộ thông 20–30g, Thuyền y 6–10g, Thích tật lê 10g, Bạch chỉ 10g, Tế tân 3g. Nếu có phì đại cuốn mũi, huyết ứ rõ:→ thêm Hồng hoa 10g, Xuyên khung 10g để hoạt huyết, nhuyễn kiên.Nếu biểu hiện chứng phế nhiệt, đàm nhiệt rõ: Dùng Sinh ma hoàng 10g, Hạnh nhân Nam 10g, Sinh thạch cao 30g, Sinh cam thảo 6g, Thương nhĩ tử 15g, Tân di hoa 10g, Hoàng cầm 10g, Ngư tinh thảo 20g, Bồ công anh 20g.
Kết hợp biện chứng luận trị và phương thuốc chuyên dụng trong điều trị hen suyễn như thế nào?
Hen suyễn thường phân thành bốn thể bệnh lớn: Hàn, nhiệt, hư, thực.
(1) Hàn suyễn
– Từ thời Hán, các bài như Tiểu thanh long thang, Ma hoàng thang, Ma hoàng phụ tử tế tân thang đã được dùng và duy trì suốt hơn 2000 năm.– Ma hoàng được xem là thuốc truyền thống chữa hen, cần sử dụng liều lượng chính xác. Nếu đúng thể bệnh, dùng liều thường là đã có hiệu quả; nếu sai thể, tăng liều không giúp cải thiện mà còn dễ gây độc.– Nghiên cứu hiện đại: thành phần chủ yếu ephedrine có tác dụng giãn cơ trơn phế quản → giảm co thắt, hỗ trợ hô hấp. Tuy nhiên, dùng quá liều có thể gây đánh trống ngực, tăng huyết áp,… nên cần thận trọng khi sử dụng.
– Việc dùng thạch tín (砒石) trị hen được ghi nhận từ thời Tống trong “Thánh tế tổng lục”.– Các bài thuốc cổ dùng thạch tín gồm: Bát bảo đan, Cá chép viên, Hoàng hoàn đơn giản, Tử kim đan, Đoạt mệnh đan,…– Trong lâm sàng, thêm Tỳ phèn hoàn vào bài trị hàn suyễn cho hiệu quả rõ rệt. Tỳ phèn hoàn (cổ gọi Tử kim đan):Thạch tín 2,5g, Minh phèn 10g, Đậu xị 30g → tán bột, làm hoàn cỡ hạt đậu xanh. Mỗi lần uống 6–10 viên, có thể dùng liên tục hoặc ngắt quãng, nhưng không dùng liên tục quá 1 tháng.– Do có chứa arsenic nên có độc tính, nhưng tác dụng thường rõ rệt trong ngày đầu hoặc sau 1–5 ngày, một số trường hợp chậm hơn có thể đến 15 ngày mới thấy cải thiện.
(2) Nhiệt suyễn
– Với hen suyễn kèm triệu chứng nhiệt, thường dùng các bài như: Ngân kiều tán, Thanh kim giáng hỏa thang, Đại thanh long thang.
– Cũng có người dùng Ngọc tiên đan (làm từ sên và bào ngư nghiền nhuyễn hoàn lại), nhưng hiệu quả không lý tưởng. Ngưu hoàng giải độc hoàn (hoặc viên) Thuốc này thường được dùng điều trị viêm họng, táo bón,… Trong lâm sàng, khi điều trị hen thể nhiệt, có thể gia thêm Ngưu hoàng giải độc viên, liều mỗi lần 2 viên, ngày 2 lần, trẻ em giảm liều theo tuổi. Không những hiệu quả nhanh chóng (kiểm soát cơn hen cấp), mà còn hiệu quả lâu dài (củng cố không tái phát).
Thành phần chính của Ngưu hoàng giải độc hoàn có chứa arsen (砒), nhưng là loại nhiệt độc thấp, tức hùng hoàng, từ hoàng, phối hợp với đại hoàng, hoàng cầm, ngưu hoàng là các vị thuốc khổ hàn tả nhiệt. Với hen kèm triệu chứng nhiệt, bất kể có táo bón hay không, dùng thêm Ngưu hoàng giải độc hoàn đều đạt hiệu quả tốt — có ý nghĩa lâm sàng nhất định. Hen thể nhiệt thích hợp dùng Ngưu hoàng giải độc hoàn, không nên dùng Tỳ phèn hoàn, vì 砒 (arsen) thuộc tính nhiệt, thích hợp với hen thể hàn, nếu dùng trong hen thể nhiệt, không những không hiệu quả, mà còn dễ khởi phát cơn hen hoặc làm nặng thêm tình trạng khó thở.
Ngoài ra, liều lượng Tì thạch khó nắm bắt: ít thì vô hiệu, nhiều dễ gây ngộ độc. Nếu sau khi dùng arsen mà xuất hiện: Nóng bàn tay chân, khô họng, tức ngực, biếng ăn, chảy máu cam, rối loạn kinh nguyệt, tăng hồng cầu,… thì đều là dấu hiệu ngộ độc arsen.
Vì vậy, dùng Tỳ phèn hoàn phải thật cẩn trọng, liều lượng chính xác. Người có bệnh gan, thận, tim mạch nặng, lao phổi có ho ra máu hoặc hen thể nhiệt nên tránh dùng hoặc hết sức thận trọng.
(3) Hen thể hư
Trương Cảnh Nhạc viết: “Hen hư là khí yếu, thở thấp, tiếng nói nhỏ, thở gấp, thở ra không nổi, nuốt vào cũng khó, lao động là mệt, chỉ cần thở được một hơi dài đã thấy dễ chịu.” Mô tả sinh động này nói về chứng hen thể hư, gồm các thể: Tỳ hư (khí hư), Thận hư, Phế thận lưỡng hư. Có thể phân thành 3 loại điều trị như sau: Chủ yếu là phế khí hư: Dùng Bổ trung ích khí thang, Nhân sâm ngũ vị tử tán, hoặc đơn độc dùng nhân sâm hằng ngày. Chủ yếu là thận hư
Biện chứng dùng các phương như: Thận khí hoàn, Lục vị địa hoàng hoàn, Tả quy hoàn hoặc Hữu quy hoàn.
Cũng có thể phối hợp Tả – Hữu quy hoàn, mỗi lần 9g, ngày 2 lần, uống lâu dài. Phế thận lưỡng hư (gồm cả “thận không nạp khí”)
Dùng Sâm Cáp tán, Thất vị đô khí hoàn, Sâm phụ thang,… Hoặc dùng Hắc thi đan (trong “Cục phương”), nhưng không dùng lâu.
Trong cả 3 loại, bổ thận được xem là trọng điểm. Ngay cả trong giai đoạn hen phát tác ở thể hư, nếu biện chứng đúng, gia giảm linh hoạt, vẫn có thể trị tiêu và trị bản cùng lúc, đạt hiệu quả rõ rệt.
(4) Thực suyễn
Trương Cảnh Nhạc viết:
“ Suyễn có hư thực. Thực là ngực trướng khí thô, tiếng nói lớn, khí bốc lên mạnh, thở ra mới thấy dễ chịu.” Dù là biểu hàn, biểu nhiệt, hay phế vị thực nhiệt, chỉ cần chưa xuất hiện các chứng tạng phủ hư hoặc khí hư, đều thuộc thực hen.– Trong lâm sàng, những trường hợp có thể biện rõ hàn nhiệt thường hiệu quả điều trị tốt, ngược lại vô chứng可辨 (khó biện chứng) thì hiệu quả kém hơn.
– Trong Định suyễn thang có vị bạch quả, sách “Bản thảo cương mục” viết:“Bạch quả định ho suyễn”, chữa ho khí suyễn. Bài này thường dùng cho hen không rõ chứng mà vẫn đạt hiệu quả bình suyễn, liễm phế.– Ngoài ra còn có bài mới gồm:Hợp hoan bì 30g, Lão quán thảo 30g, Bích đào can 15g, Địa long 9g, Bán chi liên 15g Trị hen suyễn thể thực, thu hiệu quả rõ rệt. Phân tích dược lý:
Hợp hoan bì, Bích đào can: Điều tiết hệ thần kinh thực vật. Lão quán thảo: chứa các chất tiêu đờm, giãn phế quản. Địa long: chứa succinic acid → giãn khí quản, chống dị ứng; Bán chi liên: thanh nhiệt giải độc, chống viêm. Một đơn phương khác trị hen thực cũng rất hiệu quả: Dùng tân hương uất (hương nhu) nấu nhừ, thêm mạch nha đường 500g, cô đặc thành cao. Mỗi lần 1 thìa, ngày 3 lần, pha nước ấm uống. Phương thuốc chuyên trị: Chữa hen phế quản, cần kết hợp biện chứng và biện bệnh.Lâm sàng thường dùng phương chuyên trị – “Tiệt suyễn thang” (截喘汤) –Không cần phân biệt hàn nhiệt hư thực, phát tác hay không đều dùng được. Công dụng:
Trị hen phế quản, viêm phế quản mạn, khí phế thũng,… → hiệu quả với ho đàm nhiều, khí nghịch, suyễn gấp.Thành phần:Phật nhĩ thảo 15g Bích đào can 15g Lão quán thảo 15g Toàn qua lâu 10g Hạ khô thảo 10g Khương Bán hạ 10g Phòng phong 10g Huyền hồ 6g Khai kim tỏa 15g Công năng: Phật nhĩ thảo (tên khác: Thử mạch khúc thảo) – theo “Bản thảo thập di” – chuyên hóa đàm, chỉ khái, bình suyễn, trị các loại ho suyễn bất kể cấp hay mạn, ngày đêm đều dùng được. Lão quán thảo – theo “Bản thảo cương mục thập di” – khu phong hoạt huyết, thanh nhiệt giải độc, nguyên là thuốc khu phong thấp cường cân cốt, nhưng trong dân gian lại dùng độc vị trị hen rất tốt.
Lão quán thảo có tác dụng trừ đờm, giãn phế quản, dược lý cho thấy có khả năng ức chế tụ cầu vàng, phế cầu khuẩn, liên cầu khuẩn và virus cúm, do đó có thể kiểm soát nhiễm trùng đường hô hấp trong giai đoạn phát tác của hen phế quản. Bích đào can vị khổ, tính ôn, có tác dụng sáp liễm, chuyên trị đạo hãn, thổ huyết, sách “Ẩm phiến tân tham” ghi lại công dụng “trừ ho lao”, dân gian có kinh nghiệm dùng trị hen dai dẳng, nghiên cứu dược lý cho thấy có tác dụng điều tiết thần kinh thực vật và hệ vi tuần hoàn, ba vị thuốc trên có tác dụng trừ đờm, chỉ khái, bình suyễn, là quân dược của phương. Huyền hồ tiêu đàm bình suyễn, giáng nghịch hạ khí. Toàn qua lâu được ghi chép sớm trong “Bản Kinh”, có thể thanh phế vị chi nhiệt, hóa đàm tán kết ở thượng tiêu, nhuận táo thông tiện ở hạ tiêu, lại có tác dụng kháng khuẩn phổ rộng. Bán hạ táo thấp hóa đàm, giáng nghịch hạ khí, y gia hiện đại ít dùng, đặc biệt trong các chứng có tà thực thì càng kiêng kỵ, vì lo ngại đặc tính “chua thì liễm phế, sắc đen nhập thận, hạch giống thận nên bổ thận”; tuy nhiên nếu dùng với mục đích đồng trị hư thực, tiêu bản kiêm cố thì có thể điều trị cả các chứng khái suyễn mới mắc và lâu ngày. Ngũ vị tử có tác dụng bổ thận nạp khí, liễm phế chỉ khái, được dùng làm tá dược. Phòng phong chủ trị phong tà, “Dược pháp loại tượng” viết “trị phong thông phong, tả phế thực”, là một vị thuốc kháng dị ứng tốt, có thể ức chế phản ứng quá mẫn trong giai đoạn phát tác của hen, loại bỏ tác nhân gây dị ứng. Khai kim tỏa (tức rễ kiều mạch dại) có công dụng thanh nhiệt giải độc, hoạt huyết tán ứ, hóa đàm chỉ khái, giúp giảm tiết dịch đờm, từ đó làm giảm ho suyễn. Toàn phương kết hợp y học cổ truyền và hiện đại, bệnh chứng đối chiếu nhau, nắm bắt trọng điểm là hóa đàm giáng nghịch, đàm tiêu thì suyễn cũng yên, giúp giãn cơ trơn phế quản, làm sạch chất tiết ở niêm mạc, đạt hiệu quả giáng nghịch nạp khí, hóa đàm tiệt suyễn. Giai đoạn phát tác của hen dùng bài thuốc này thông thường sau 3–7 thang đã có hiệu quả, nếu kết hợp biện chứng gia giảm thì hiệu quả càng rõ rệt, nếu dùng trong giai đoạn ổn định của hen thì có tác dụng dự phòng và củng cố.
Trị hen lấy “Bất phát vi diệu” điều trị lúc không phát bệnh là tốt nhất làm nguyên tắc, do đó việc phòng ngừa và điều trị sớm có ý nghĩa vô cùng quan trọng, giúp bệnh nhân ít hoặc không phát bệnh, hình thành chu trình điều hòa lành mạnh. Về phòng bệnh, ngoài việc chú ý đến khí hậu, môi trường và chế độ ăn uống, người bị hen nên dùng các thuốc như Tả quy hoàn, Hữu quy hoàn, Nhân sâm ngũ vị tử tán vào khoảng tháng 8–9 âm lịch để giảm nguy cơ phát cơn, thường xuyên dùng bột Tử hà xa có thể tăng cường thể chất. Về điều trị, cần chú ý những điểm sau: một là hen do ho khởi phát thì phải trị ho trước, ho không dứt thì suyễn không yên, hai là người có nhiều đờm nên lấy tiêu đờm làm chính, đàm tiêu thì suyễn dễ bình, đồng thời kiêng dùng các loại thuốc gây tê như anh túc xác, Nam thiên trúc, ba là nếu khí thượng xung thì phải giáng khí làm bình khí, khí bế tắc thì phải khai thông; bốn là bế thì khai, không ra mồ hôi thì phát hãn, tiểu tiện ít thì lợi thủy, đại tiện bí thì thông tiện.
Về điều dưỡng ăn uống cho bệnh nhân hen: thực phẩm có nhiều loại, thành phần dinh dưỡng khác nhau, chỉ khi phối hợp hợp lý thì cơ thể mới nhận được đầy đủ các chất cần thiết, đáp ứng nhu cầu sinh lý, do đó ăn uống phải toàn diện, dinh dưỡng đầy đủ mới đảm bảo cho sự phát triển và trường thọ. Thực phẩm có năm vị: Chua, đắng, ngọt, cay, mặn, mỗi vị có tác dụng khác nhau, ngũ vị điều hòa thì có lợi cho sức khỏe, quá thiên lệch thì sinh bệnh. Ăn uống điều độ gồm hai ý: Một là số lượng thức ăn, hai là thời gian ăn, nghĩa là ăn đúng giờ, đúng lượng, hình thành thói quen ăn uống tốt sẽ có lợi cho sức khỏe. Khí hậu bốn mùa trong tự nhiên ảnh hưởng lớn đến cơ thể, do đó từ xa xưa y học dưỡng sinh Trung Hoa đã nhấn mạnh lý luận “Điều dưỡng theo bốn mùa”, trong đó chế độ ăn uống cũng là một phần quan trọng.
Mùa xuân vạn vật sinh sôi, dương khí tăng lên, cơ thể cũng thuận theo đó mà dương khí phát triển, nên cần trợ dương bằng cách ăn các loại như hành, ngò, tương đậu, táo đỏ, hoàng kỳ.
Mùa hè là mùa sinh trưởng mạnh, dương thịnh âm suy, nên ăn ít đồ cay ngọt nóng để tránh tổn thương âm, nên ăn nhiều món ngọt chua thanh mát như đậu xanh, rau xanh, ô mai, dưa hấu.
Mùa thu là mùa thu hoạch, tiết trời chuyển mát, khí hậu hanh khô, nên hạn chế ăn cay khô như ớt, hành sống, thay vào đó nên ăn thực phẩm mềm mát như vừng, gạo nếp, gạo tẻ, mật ong, tỳ bà, mía, dứa, các chế phẩm từ sữa; người cao tuổi nên dùng bữa sáng bằng cháo để bổ tỳ, sinh tân.
Mùa đông là mùa vạn vật tiềm tàng, khí hậu lạnh, nên dưỡng âm tiềm dương, thích hợp ăn các loại ngũ cốc, thịt dê, ba ba, rùa, mộc nhĩ…, chú ý ăn uống nóng ấm để bảo vệ dương khí.
Với người thể hư và người cao tuổi, mùa đông là thời điểm tốt nhất để bồi bổ bằng thực phẩm.
Trong dưỡng sinh bằng ăn uống, ngoài việc điều chỉnh theo đặc tính thực phẩm, đặc điểm cơ thể và sự thay đổi của bốn mùa, còn cần chú ý đến sự khác biệt về tuổi tác, thể chất, tính cách, thói quen, không nên áp dụng một cách máy móc.
Các phương pháp ăn uống hỗ trợ điều trị hen suyễn gồm: (1) Đao đậu tử sao cháy tán bột, mỗi lần 6g, uống với rượu ngọt, ngày 2 lần. (2) Vả tươi giã lấy nước nửa chén, pha nước ấm uống. (3) Bí đao non 1 quả, đường phèn 90g, bổ đôi (không bỏ ruột), nhồi đường phèn vào, hấp chín ăn, liên tục 7 ngày. (4) Trứng gà luộc với trà, ăn trước bữa, ngày 1–2 quả. (5) Trứng ba ba, luộc với rượu rồi ăn. (6) Hồng khô và huyết gà nấu chín ăn thường xuyên. (7) Cá chép 1 con, bọc giấy nướng chín, bỏ xương, tán mịn nấu cháo với gạo nếp, trị suyễn hư. (8) Mè đen 250g, gừng tươi 75g giã lấy nước bỏ bã, trộn với mật ong 75g và đường phèn 75g, hấp chín, mè đen rang chín để nguội, trộn với nước gừng, rang lại, trộn đường phèn, bảo quản trong lọ kín, sáng tối mỗi lần 1 muỗng cà phê, dùng cho hen suyễn người già. (9) Bưởi non 1 quả, gà mái 1 con, cắt nắp bưởi bỏ ruột, gà làm sạch cắt miếng nhồi vào trong vỏ bưởi, thêm ít muối và nước, đậy nắp, chưng cách thủy 3 giờ, ăn thịt uống nước. (10) Nhân hạnh đào 50g, nhân hạnh nhân rang 25g, tán nhuyễn, mỗi lần uống 5–10g với nước gừng. (11) Táo 1 quả khoét lỗ, cho 1 hạt ba đậu đã bỏ vỏ vào trong, hấp chín, lấy ba đậu bỏ đi, ăn táo, mỗi lần 1 quả. (12) Cóc 1 con, trứng gà 1 quả (tốt nhất trứng gà mái trắng), nhét trứng vào bụng cóc qua miệng, bọc giấy, đặt giữa 2 miếng ngói âm dương, trát bùn kín, đặt lên bếp than, nướng chín, lấy ra, mổ cóc lấy trứng, bóc vỏ ăn, uống thêm ít rượu vàng. (13) Quả long khuy (dân gian gọi là “trái sao sao”) ngâm rượu trắng 100 ngày, rượu ngập quả, mỗi lần 1 muỗng canh, ngày 3 lần. (14) Khí quản gà trống 2 cái, địa long 15g, cho vào nồi đất nấu cạn, tán bột, pha với nước sắc bán hạ gừng uống, ngày 2 lần. (15) Tinh hoàn heo con 12–15 cái, rửa sạch, ngâm rượu trắng 35 độ 500mL trong 15 ngày, mỗi lần uống 30–50mL, ngày 1–2 lần; nếu không uống rượu được, có thể luộc chín ăn với nước, mỗi lần 2–3 cái, ngày 2 lần. (16) Canh củ cải trứng gà: trước và sau đông chí, lấy vài củ cải lớn (da hồng, ruột trắng), khoét lỗ nhét trứng gà tươi vào, đầu to quay lên, trồng lại xuống đất hoặc chậu để sống, sau 81 ngày (quá cửu), nhổ lên rửa sạch, cắt lát nấu canh, đập trứng vào nấu chung, không nêm muối, mỗi ngày ăn 1 quả, liên tục vài ngày, nếu trứng hư thì không dùng. (17) Các món cháo: ① Cháo hồ đào có công dụng ôn phế nạp khí, bình suyễn; ② Cháo hoài sơn bổ trung ích khí, bổ phế thận; ③ Cháo bách hợp nhuận phế, thanh táo, chỉ khái. (18) Cáp giải 1 con, nhau thai 1 cái, ngư tinh thảo 75g, hạnh nhân 10 hạt, ít thịt nạc, rửa sạch, hầm nhỏ lửa 3 giờ, nêm muối, chia 2 lần uống, mỗi 10 ngày hầm 3 lần, công dụng bổ phế ích thận, thanh nhiệt hóa đàm, trị khí suyễn do thận hư, ho suyễn do phế hư. (19) Phổi heo 300g, củ cải trắng 250g, rửa sạch hầm với muối và gừng, chia 2 lần ăn, cách ngày ăn 1 lần, liên tục 14 ngày là một liệu trình, công hiệu bổ phế bình suyễn, chỉ khái hóa đàm, dùng cho hen lâu ngày, ho nhiều đờm. (20) Mè đen 250g, gừng tươi 120g, mật ong 120g, đường phèn 120g, mè rang chín để nguội, gừng giã lấy nước, trộn đều với mè, rang lại, để nguội, trộn mật ong và đường phèn, mỗi sáng tối uống 1 muỗng canh, công dụng bổ can ích thận, nhuận phế hóa đàm, dùng trong giai đoạn ổn định của hen để cải thiện thể chất.
(21) Sữa đậu nành 180mL, đun sôi rồi thêm 0,6g mì chính và ít muối để điều vị, uống vào buổi sáng, dùng thường xuyên. Có công năng bổ hư nhuận táo, thanh phế hóa đàm. Thích hợp với người bệnh lâu ngày, thể hư, ho nhiều đờm.
Trung y dự phòng hen phế quản như thế nào?
Tào Minh Cao và cộng sự trong thực tiễn lâm sàng lâu dài phát hiện: bệnh nhân hen suyễn cao tuổi và nam giới đa phần thuộc chứng dương hư, còn thiếu niên và nữ giới chủ yếu là âm hư. Trong phòng ngừa bệnh này, Bối Nhuận Phủ và cộng sự cho rằng: trẻ em nên thường dùng bột tử hà xa và Hà xa đại tạo hoàn; người trung niên và cao tuổi nên luân phiên dùng Tả quy hoàn và Hữu quy hoàn, cũng có thể chọn Lục vị địa hoàng hoàn, Phụ quế bát vị hoàn… Bệnh nhân phát bệnh lâu năm, nếu dùng phương thuốc Linh quế truật cam thang liên tục 1 tháng vào mùa hè có thể giảm phát tác. Vương Linh Đài cho rằng: các thuốc bổ khí kiện tỳ như Hoàng kỳ, Nhân sâm, Linh chi, Phục linh, Bạch truật, cùng các thuốc có tác dụng chống dị ứng như Phòng phong, Cam thảo đều có hiệu quả phòng chống hen suyễn phát tác. Ngoài ra, các phương pháp truyền thống như dán thuốc, châm cứu cũng có thể dùng làm biện pháp hỗ trợ.
Những vị thuốc thường dùng trị ho bình suyễn ở trẻ em gồm những gì?
(1) Địa long
Tính vị – công năng: Tính hàn, vị mặn. Thanh nhiệt bình suyễn chỉ kinh.
Chủ trị – cách dùng: Dùng cho ho suyễn do phế nhiệt, sốt cao phiền táo. Liều dùng 4–8g.
(2) Hạnh nhân
Tính vị – công năng: ngọt đắng, ấm, hơi độc. Chỉ khái bình suyễn, nhuận tràng thông tiện.
Chủ trị – cách dùng: ho do cảm lạnh, suyễn nhiều đờm, âm dịch hao tổn gây táo bón. Liều dùng 4–6g.
(3) Tang bạch bì
Tính vị – công năng: ngọt lạnh. Thanh phế tả thủy, chỉ khái bình suyễn.
Chủ trị – cách dùng: ho suyễn do phế nhiệt, thủy thũng, tiểu tiện khó. Liều dùng 6–15g.
(4) Mã đấu linh
Tính vị – công năng: cay đắng lạnh. Thanh phế giáng khí, chỉ khái bình suyễn.
Chủ trị – cách dùng: ho suyễn do phế nhiệt. Liều dùng 3–6g.
(5) Tì bà diệp
Tính vị – công năng: đắng bình. Thanh phế giáng khí, chỉ khái, hòa vị.
Chủ trị – cách dùng: suyễn khái do phế nhiệt khí nghịch. Liều dùng 9–15g.
(6) Khoản đông hoa
Tính vị – công năng: Ấm cay đắng. Chỉ khái hóa đàm, túc phế hạ khí.
Chủ trị – cách dùng: ho suyễn do phế hàn. Liều dùng 6–10g.
(7) Tử uyển
Tính vị – công năng: cay đắng ấm. Chỉ khái hóa đàm, tán hàn không táo.
Chủ trị – cách dùng: ho bất luận hàn nhiệt, bệnh mới hay lâu đều dùng được. Liều dùng 6–12g.
(8) Bách bộ
Tính vị – công năng: ngọt đắng bình. Nhuận phế chỉ khái, diệt chí sát trùng.
Chủ trị – cách dùng: nhuận phế chỉ khái, thường dùng cho trẻ ho gà, ho lao. Liều dùng 9–15g.
(9) Tô tử
Tính vị – công năng: ấm cay. Túc phế giáng khí, bình suyễn chỉ khái.
Chủ trị – cách dùng: giáng phế khí, chỉ khái. Liều dùng 6–9g.
Các phương phương thường dùng bình suyễn ở trẻ em gồm những gì?
(1) Tam áo phương
Thành phần – cách dùng: Ma hoàng chế 3–6g, Hạnh nhân 6–9g, Cam thảo sống 3–4g, Gừng tươi 3–5 lát, sắc uống.
Công năng: tuyên phế tán hàn, chỉ khái bình suyễn.
Chủ trị: cảm phong hàn, phế khí bất tuyên gây ho suyễn, nhiều đờm, ngực đầy, đau đầu nghẹt mũi.
(2) Định suyễn thang
Thành phần – cách dùng: Bạch quả 4–6g, Ma hoàng chế 3–4g, Hạnh nhân 6–9g, Cam thảo 3–4g, Tô tử 6–9g, Tang bạch bì 6–12g, Hoàng cầm 6–9g, Bán hạ 6–9g, Khoản đông hoa 6–9g, sắc uống.
Công năng: tuyên phế bình suyễn, thanh nhiệt hóa đàm.
Chủ trị: đàm nhiệt gây hen suyễn, ho suyễn cấp, đàm vàng nhiều, cổ có tiếng rít.
(3) Tiểu thanh long thang
Thành phần – cách dùng: Ma hoàng chế 3–4g, Quế chi 3–5g, Thiệu dược 6–9g, Can khương 3–6g, Bán hạ 6–9g, Tế tân 1–3g, Ngũ vị tử 4–8g, Cam thảo 3–4g, sắc uống.
Công năng: Ôn phế hóa ẩm, chỉ khái bình suyễn.
Chủ trị: Hàn biểu thủy ẩm, ho suyễn, đàm nhiều và loãng, thậm chí nằm không thở được, lưng lạnh, mặt phù chi phù, không khát, rêu lưỡi trắng mỏng ướt.
(4) Tô tử giáng khí thang
Thành phần – cách dùng: Tô tử 4–6g, Bán hạ 6–9g, Cam thảo 3–4g, Nhục quế 1,5–3g, Đương quy 6–9g, Tiền hồ 6–9g, Hậu phác 3–6g, sắc uống, thêm Gừng tươi 2 lát, Đại táo 3 quả khi sắc.
Công năng: Giáng khí bình suyễn, ôn hóa đàm ẩm.
Chủ trị: Ho đàm ẩm, suyễn thở ngắn, ngực đầy đàm nhiều, lưỡi rêu trắng trơn.
(5) Đình lịch đại táo tả phế thang
Thành phần – cách dùng: Đình lịch tử 6–8g, Đại táo 5–10 quả, sắc uống.
Công năng: tả phế bình suyễn, khử đàm hành thủy.
Chủ trị: đàm dãi bế tắc, ho suyễn đầy ngực, mặt phù, tiểu ít.
(6) Ma hạnh thạch cam thang (麻杏石甘汤)
Thành phần và cách dùng: Ma hoàng sao (炙麻黄) 3–6g, hạnh nhân (杏仁) 4–6g, thạch cao sống (生石膏) 9–18g, cam thảo (甘草) 3–5g, sắc uống.
Công dụng: Thanh nhiệt tuyên phế, trừ đờm giáng nghịch.
Chủ trị: Ho suyễn thở gấp, đờm đặc vàng đục, cánh mũi phập phồng, tâm phiền.
Ưu điểm và hạn chế của Trung y trong điều trị hen suyễn là gì?
Trung y có lịch sử hàng ngàn năm điều trị hen suyễn, giàu kinh nghiệm, phương pháp độc đáo, lý luận hoàn chỉnh.
(1) Trung y trị hen suyễn chú trọng biện chứng luận trị: Phân biệt rõ ràng nguyên nhân và cơ chế bệnh, chú ý đến vi sai bên trong bệnh hen suyễn, căn cứ vào biến hóa hư thực, hàn nhiệt của tạng phủ, âm dương, khí huyết để lập phương pháp điều trị, thi trị theo chứng.
(2) Kiêm trị tiêu bản, điều trị triệt để: Giai đoạn phát tác cấp tính lấy phế làm trung tâm để cải thiện triệu chứng; giai đoạn lui bệnh điều trị tận gốc, lấy phế, tỳ, thận làm trung tâm để điều lý, đạt đến mục tiêu phù chính cố bản, bổ sung chính khí, giảm tần suất phát tác.
(3) Trị bệnh từ khi chưa phát: Lấy phòng ngừa làm chính, áp dụng phương pháp “đông bệnh hạ trị”, phòng bệnh từ trước khi xảy ra.
(4) Trung y có nhiều phương pháp trị hen suyễn: Dùng thuốc thảo dược, châm cứu, khí công, giác hơi, trích huyết, dán thuốc ngoài da,… mỗi phương pháp có công năng riêng, hỗ trợ lẫn nhau.
(5) Ít tác dụng phụ: Nếu biện chứng chính xác, dùng thuốc lâu dài sẽ ít xảy ra kết quả bất lợi.
Tuy nhiên, Trung y trị hen suyễn cũng có một số hạn chế:
(1) Chủng loại thuốc quá nhiều, khó phối chế, người bệnh khó tự sử dụng.
(2) Phương thức sử dụng thuốc còn lạc hậu, thang thuốc uống không tiện dự phòng, dễ chậm trễ khi cần dùng gấp.
(3) Kỹ thuật trị hen bằng Trung y yêu cầu chuyên môn cao, phần lớn thầy thuốc khó nắm vững toàn diện.
Dùng Trung y điều trị điều dưỡng trong giai đoạn lui bệnh của hen suyễn như thế nào?
Hen suyễn tái phát nhiều lần khiến chính khí suy yếu, một khi bệnh dần lui thì cần bắt đầu điều lý công năng của ba tạng phế, tỳ, thận, nhằm phù chính cố bản, tăng cường khả năng chống lại ngoại tà, loại trừ căn nguyên sinh đờm thấp trong cơ thể.
Phế chủ khí toàn thân: Phế hư không chủ được khí, biểu hiện là vệ dương không đầy đủ khiến da lông sơ hở, ngoại tà dễ xâm nhập, mỗi khi thời tiết thay đổi dễ phát bệnh, thường sợ lạnh, tự ra mồ hôi, trước khi phát bệnh có hắt hơi, nghẹt mũi, chảy nước mũi trong. Trị pháp nên bổ phế cố biểu, dùng Bạch truật 6g, Hoàng kỳ 8g, Phòng phong 3g tán bột uống, hoặc uống dung dịch thuốc “Ngọc bình phong tán” 10ml/lần, ngày 2–3 lần.
Tỳ vị là gốc hậu thiên, là nguồn sinh đờm: Trẻ em tỳ hư, ăn uống không điều độ, tỳ vận thất thường, thủy thấp không hóa, tụ thấp sinh đờm, đờm chứa ở phế gây ho. Do đó, trẻ thường vì ăn uống thất thường mà phát bệnh. Trị pháp nên kiện tỳ hóa đàm, dùng Trần bì, Thanh hạ mỗi vị 8g, Đảng sâm, Bạch truật, Bạch linh mỗi vị 10g, Cam thảo 4g, sắc uống ngày 1 thang.
Thận là gốc tiên thiên, là gốc của lục phủ ngũ tạng: Thận hư không nạp được khí, nên trẻ khi nghỉ ngơi cũng thở ngắn, vận động thì nặng hơn, có thể kèm các biểu hiện bẩm sinh như xương mềm yếu, chậm biết đi, đầu to, trí tuệ kém phát triển, cổ mềm, yếu đuối, răng mọc không đều, tóc thưa và không bóng. Trị pháp nên phù nguyên bồi bản, ích thận nạp khí.
Nếu dương hư: Mặt trắng, sợ lạnh, tay chân lạnh, eo gối mỏi yếu, tiểu tiện trong dài hoặc đái dầm ban đêm, lưỡi nhạt rêu trắng, trị bằng ôn bổ thận dương, dùng Kim quỹ thận khí hoàn, 1 viên/lần, ngày 2 lần.
Nếu âm hư: Gò má đỏ, lưỡi khô, thể trạng gầy yếu, lưng gối đau mỏi, đại tiện táo, tiểu ít, nóng năm lòng, lưỡi đỏ ít dịch, mạch tế sác. Trị bằng tư âm bổ thận, dùng Lục vị địa hoàng hoàn, 1 viên/lần, ngày 2 lần.
Danh y Triệu Tâm Ba trị hen suyễn như thế nào?
Hen suyễn là chứng hợp giữa chứng “Hao” và chứng “suyễn”. Hao là có tiếng rít do đàm gây nghẽn khí, thở có âm thanh, như kéo cưa, khó nằm nghỉ; Suyễn là phế thất thanh túc, hô hấp ra vào bất thường, há miệng nâng vai, khí nghịch dồn dập. Sau đây là kinh nghiệm của danh y Triệu Tâm Ba trong điều trị hen suyễn:
Phương thuốc kinh nghiệm:
Tang bạch bì 12g, Ma hoàng 3g, Pháp hạ 5g, Hạnh nhân sao 6g, Hoàng cầm 10g, Ngân hạnh 10g, Thạch cao sống 30g, Qua lâu 12g, A giao 10g (hòa tan), Mạch môn 10g, Cam thảo sống 3g, Tô tử 5g.
Trong phương:
Ma hoàng, Tô tử, Tang bạch bì, Thạch cao vừa giải biểu vừa thanh phế giáng nghịch.
Pháp hạ, Qua lâu, Hạnh nhân, Ngân hạnh chuyên hóa đàm trọc, bình ho định suyễn.
Hoàng cầm, Cam thảo sống, Mạch môn, A giao thanh phế trọc nhiệt kiêm ích khí sinh tân.
Có thể dùng cho cả hen suyễn cấp và mãn tính.
Lâm sàng còn có thể phân loại hen ở trẻ em thành 4 thể, sẽ trình bày tiếp nếu bạn cần.
(1) Thể phong hàn: Thường không sốt rõ rệt, đau đầu, nhiều nước mũi, không ra mồ hôi, cổ họng có tiếng khò khè, đờm nhiều và có bọt, rêu lưỡi trắng mỏng. Dùng các vị: Ma hoàng 3g, Quế chi 5g, Tế tân 2.4g, Can khương 3g, Ngũ vị tử 5g, Bạch thược 6g, Xạ can 6g, Pháp hạ 3g, Cam thảo 3g.
(2) Thể phong nhiệt: Thở gấp, cổ họng có tiếng đờm, ho từng cơn, đờm vàng đặc khó khạc, ngực tức mặt đỏ, có thể sốt, tiểu vàng, đại tiện táo, rêu lưỡi vàng. Dùng: Ma hoàng 5g, Hạnh nhân sao 6g, Thạch cao sống 18g, Cam thảo sống 5g, Tang diệp 10g, Hoàng cầm 10g, Hải phù thạch 12g, Qua lâu 12g, Vỏ sò 10g.
(3) Thể hỏa uất: Thở gấp khí thô, đờm dính đặc, mặt đỏ môi khô, ít tân dịch, tiểu tiện ít, đại tiện táo bón. Dùng: Thạch cao sống 30g, Tri mẫu 6g, Tang bì sao 10g, Huyền sâm 10g, Gạo tẻ 12g, Hạnh nhân sao 6g, Tử uyển 10g, Khoản đông hoa 10g.
(4) Thể phế âm hư: Thở dài hít ngắn, vận động thì suyễn nặng thêm, sắc mặt trắng nhợt, tiểu trong dài, đại tiện thường lỏng. Dùng: Thái tử sâm 9g, Hoàng kỳ 12g, Phục linh 10g, Cam thảo sao 3g, Phụ tử 10g, Bạch thược 6g, Ngũ vị tử 3g, Mạch môn 10g, Thiên môn 10g, Ô mai 1 quả, Gừng tươi 3 lát.
Hen phế quản mạn sau khi thuyên giảm có thể dùng: nhân hồ đào 500g, đường phèn 500g, hạnh nhân sao 250g, bạch quả 250g, giã nhuyễn thành cao, mỗi sáng dùng 1 thìa, uống liên tục 3 đợt để phòng tái phát.
Các món ăn – bài thuốc dành cho thể nhiệt của hen suyễn gồm:
(1) Canh phổi heo với hạnh nhân và tang bì: Hạnh nhân Nam 20g, tang bạch bì 15g, phổi heo khoảng 250g. Cắt phổi thành miếng, rửa sạch bọt khí quản; hạnh nhân ngâm nước sôi bóc vỏ; các vị cho vào nồi đất, thêm nước nấu chín, nêm muối dầu, chia lần uống.
(2) Cháo lô căn trúc nhự: Lô căn tươi 150g (nếu khô giảm nửa), trúc nhự 15g, gừng tươi 3 lát, gạo tẻ 100g. Lô căn rửa sạch cắt đoạn, nấu cùng trúc nhự lấy nước, đem nấu cháo với gạo tẻ, gần chín cho thêm gừng và nêm vừa ăn, chia 2 lần, dùng 3–5 lần liên tục.
(3) Canh bách hợp – bạch quả: Mỗi vị 10g, rửa sạch, sắc uống, ngày 2 lần.
(4) Canh bưởi – bách hợp: Bách hợp 50g, vỏ bưởi tươi 150g, sắc 2–3 giờ cho nhừ, thêm đường trắng 50g, chia 3 lần uống, mỗi ngày 1 thang, 3 ngày là 1 liệu trình. Kiêng ăn củ cải, cá, tôm.
(5) Trứng gà với cóc: 1 quả trứng gà (gà mái trắng), 1 con cóc sống. Nhét trứng vào miệng cóc, ép cóc nuốt trứng, sau đó dùng giấy da và dây buộc chặt, bọc bùn dày nửa ngón tay, đặt giữa 2 viên ngói âm dương, bọc kín, nướng đến khi bùn khô, trứng chín thì lấy trứng ra ăn, sau đó uống chút rượu vàng, thường 1–2 lần là hiệu quả.
(6) Cao xuyên bối lê thanh phế định suyễn: Xuyên bối, thạch cao sống, trần bì mỗi thứ 30g, lê tuyết 6 quả, tiền hồ 13g, hạnh nhân 20g, cam thảo 10g, bí đao sợi 100g, đường phèn 150g, phèn chua vừa đủ. Sắc thuốc (thạch cao, hạnh nhân, tiền hồ, cam thảo) với 2.5 chén nước lấy 1 chén, cắt nhỏ bí đao, nghiền lê, nghiền xuyên bối, trần bì tán bột, trộn tất cả với nước thuốc, hấp cách thủy 1 giờ đến khi thành dạng cao dính. Mỗi lần ăn 1 muỗng canh, chia nhiều lần dùng.
Các món ăn – bài thuốc dành cho thể hàn của hen suyễn gồm:
(1) Cháo can khương – phục linh: Can khương 5g, phục linh 15g, cam thảo 3g, gạo tẻ 100g. Trước tiên sắc thuốc, bỏ bã lấy nước nấu cháo, nêm dầu, muối vừa đủ, chia 2 lần ăn.
(2) Cháo hạnh nhân – tô tử – hạt cải củ: Hạnh nhân, tô tử, lai phục tử sắc lấy nước, nấu cháo, gần chín thêm lá tía tô, đun vài phút, bỏ lá, nêm dầu muối vừa ăn.
(3) Bí đỏ hấp ngũ vị tử: Bí đỏ khoảng 1500g, ngũ vị tử 3g, đường phèn 60g. Rửa bí, bỏ ruột, nhồi ngũ vị tử và đường vào, hấp cách thủy đến khi đường tan, bỏ bã ngũ vị tử, ăn 2 chén mỗi ngày.
(4) Canh song hạnh – nhau bò: Nhau thai bò 1 cái, hạnh nhân ngọt và đắng mỗi thứ 15g, rượu trắng, nước gừng vừa đủ. Nhau rửa sạch, ngâm vài giờ, luộc sơ qua nước sôi, cắt miếng, xào sơ với dầu, sau đó thêm nước sạch, rượu, nước gừng và 2 loại hạnh nhân, ninh đến khi nhừ, chia phần ăn.
Các món ăn – bài thuốc dành cho thể đàm hỏa phạm phế của hen suyễn gồm:
(1) Canh xuyên bối mật ong: Xuyên bối mẫu 6–12g, mật ong 15–30g, nghiền bột xuyên bối, thêm mật ong và nước, hấp cách thủy uống mỗi ngày 1 lần, liên tục 20–30 ngày.
(2) Mật ong hấp mật dê: Mật dê tươi và mật ong mỗi thứ 120g, trộn đều, hấp cách thủy 2 giờ, bảo quản trong chai sạch, mỗi lần dùng 15–20g, sáng tối uống 1 lần, thời gian tùy tình trạng bệnh.
(3) Hạnh nhân củ cải hầm phổi: Hạnh nhân đắng 15g, củ cải trắng 500g, phổi bò hoặc lợn 250g, tất cả rửa sạch cắt khúc, nấu chín nhừ với nước vừa đủ, nêm gia vị, ăn mỗi ngày hoặc cách ngày 1 lần, liên tục 30 ngày.
Các món ăn – bài thuốc dành cho thể phế hư của hen suyễn gồm:
(1) Cháo châu ngọc nhị bảo: Sơn dược sống, ý dĩ sống mỗi thứ 60g, sương bánh hồng 30g, nấu nhừ sơn dược và ý dĩ, cắt nhỏ bánh hồng cho vào nấu thành cháo sệt, dùng tùy thích.
(2) Chim bồ câu hầm hoàng kỳ: Hoàng kỳ, hoài sơn, bạch linh mỗi thứ 30g, chim bồ câu 1 con, ít muối và mì chính, làm sạch chim và thuốc, cho vào tô hầm, thêm nước, hầm cách thủy 2 giờ, nêm nếm, mỗi 3–5 ngày dùng 1 lần, có thể dùng lâu dài.
(3) Cao hoàng kỳ: Hoàng kỳ sống 60g, hoài sơn, mật ong mỗi thứ 30g, mao căn tươi 15g, cam thảo 6g. Tán bột hoài sơn, cam thảo; sắc hoàng kỳ và mao căn lấy 1 bát nước, cho bột vào khuấy đều, nấu lửa nhỏ thành cao, thêm mật ong đun sôi nhẹ là xong, chia nhiều lần dùng.
(4) Tổ yến hầm bạch cập: Bạch cập 10g, tổ yến 9g, ít mật ong. Ngâm tổ yến nước ấm, làm sạch lông, cho cùng bạch cập vào tô hầm cách thủy với nước vừa đủ khoảng 2 giờ, thêm mật ong nêm vừa miệng, có thể dùng thường xuyên.
Các món ăn – bài thuốc dành cho thể thận âm hư của hen suyễn gồm:
(1) Đông trùng hạ thảo hầm vịt: Đông trùng hạ thảo 15g, vịt già 1 con, làm sạch bỏ ruột, nhét thuốc vào bụng, thêm nước, hầm cách thủy, nêm gia vị, mỗi tuần ăn 1–2 lần, liên tục 4 tuần.
(2) Khế tử ngũ vị tử nấu phổi heo: Khế tử 6g, ngũ vị tử 20 hạt, phổi heo 1 cái, rửa sạch bóp kỹ, bỏ bọt trong khí quản, cắt nhỏ, nấu chín mềm với thuốc và nước, nêm gia vị, ăn phổi, uống nước, mỗi ngày 1 lần, dùng liên tục 7–10 ngày.
(3) Tổ yến bạch cập: Tổ yến, bạch cập mỗi thứ 12g, đường phèn vừa đủ, rửa sạch, hầm nhỏ lửa trong nồi đất, lọc bỏ bã, lấy nước thêm đường phèn nêm ngọt, chia sáng tối dùng, liên tục 10–15 ngày.
(4) Canh hạnh đào hạt rau chân vịt: Hạnh nhân ngọt 15g, nhân đào 6g, hạt rau chân vịt 5g, rửa sạch, sắc uống mỗi ngày 1 lần, liên tục 15–20 ngày.
Các món ăn – bài thuốc dành cho thể tỳ hư của hen suyễn gồm:
(1) Gà hầm thịt bưởi: 1 quả bưởi, 1 con gà mái (khoảng 500g), làm sạch bỏ đầu chân nội tạng, thịt bưởi cho vào bụng gà, cho vào tô hầm cách thủy 2 giờ, uống nước, ăn thịt, mỗi tuần 1 lần, liên tục 3 lần.
(2) Cháo sâm kỳ: Đảng sâm, hoàng kỳ, hoài sơn mỗi thứ 30g, bán hạ 10g, gạo tẻ 100g, ít đường trắng. Cắt lát hoàng kỳ, sắc với bán hạ 2 lần lấy 2 bát thuốc, chia sáng chiều mỗi lần 1 bát, cùng gạo và hoài sơn nấu cháo, thêm đường vừa miệng, ăn lúc đói, liên tục 3–5 ngày, có thể dùng lâu dài.
(3) Cháo hoài sơn bán hạ: Hoài sơn 60g, bán hạ 15g, sắc bán hạ lấy nước, bỏ bã, dùng nước nấu hoài sơn thành cháo, thêm ít đường là dùng được.
(4) Bí đỏ hầm táo đỏ – đường đỏ: Táo đỏ (bỏ hạt) 20 quả, bí đỏ tươi khoảng 500g, ít đường đỏ, gọt vỏ bí cắt miếng, nấu nhừ với táo đỏ và nước, thêm đường đỏ nêm vừa ăn.
(5) Cháo chim sẻ: 2 con chim sẻ, gạo tẻ 100g, ít dầu muối, làm sạch chim sẻ, nấu với gạo thành cháo, nêm vừa ăn, mỗi ngày 1 lần, dùng liên tục 3–5 lần.
Các món ăn – bài thuốc dành cho thể thận hư của hen suyễn gồm:
(1) Thịt chó hầm phụ tử: Phụ tử chế 20g, thịt chó 1000g, gừng tươi 150g, ít dầu lạc, muối, rượu trắng, trần bì. Thịt chó rửa sạch cắt khúc, gừng thái lát, cho thịt chó vào chảo rang khô nước, thêm phụ tử, gừng, trần bì, dầu, muối, rượu và nước vừa đủ, hầm 2–3 giờ đến khi nhừ, chia nhiều lần ăn.
(2) Đông trùng hạ thảo hầm nhau thai: Đông trùng hạ thảo 10g, nhau thai tươi 1 cái. Nhau thai rửa sạch, cùng đông trùng hạ thảo cho vào thố, thêm nước vừa đủ, hấp cách thủy 2 giờ là có thể dùng. Có thể sử dụng thường xuyên.
(3) Cháo khiếm thực: Khiếm thực 50g, gạo tẻ 100g, dầu muối vừa đủ. Nấu cùng nhau thành cháo đến khi khiếm thực chín nhừ, nêm dầu muối, chia lần ăn, thích hợp dùng lâu dài.
(4) Cháo khiếm thực – nhân đào: Khiếm thực 30g, nhân đào 20g, táo đỏ 10 quả, gạo tẻ 50g. Tất cả nấu cùng nhau thành cháo, chia lần dùng, có thể ăn thường xuyên.
Cách dùng đậu phụ và da sứa để hỗ trợ điều trị hen suyễn bằng thực dưỡng:
Đậu phụ, được làm từ đậu nành – loại thực phẩm được mệnh danh là “thịt thực vật” hoặc “sữa xanh”, có giá trị dinh dưỡng rất cao. Các thành phần dinh dưỡng chủ yếu trong đậu phụ phần lớn đều cao hơn sữa bò, không chỉ giàu protein mà còn đầy đủ các acid amin thiết yếu, thích hợp với bệnh nhân hen suyễn và mọi lứa tuổi. Đậu phụ vị ngọt, tính mát, là thực phẩm bổ mát thanh lương, có công dụng thanh nhiệt, tán huyết, lợi niệu, giải độc, chủ trị đàm suyễn, ho gà, lỵ lâu ngày, băng lậu,… Có 2 món sau đây có thể dùng:
(1) Nước ép củ cải – mạch nha – đậu phụ: Đậu phụ 1 bát, đường nha 60g, nước củ cải sống nửa cốc, ba vị đun sôi là dùng được. Mỗi ngày 1 thang, chia 2 lần uống. Có tác dụng thanh nhiệt hóa đàm, chỉ khái bình suyễn, nhuận tràng thông tiện, trị hen suyễn thể nhiệt.
(2) Đậu phụ – mạch nha – nước ép củ cải: Đậu phụ 500g, đường mạch nha 100g, nước ép củ cải sống 1 cốc, trộn đều, đun sôi dùng. Mỗi ngày 1 thang, chia 2 lần ăn. Công dụng tương tự món trên, có thêm tác dụng điều hòa tỳ vị.
Da sứa vị mặn, tính hàn, có tác dụng nhuận hóa đờm cứng, chỉ khái bình suyễn, thanh nhiệt lợi thủy, tiêu mỡ hạ áp, nhuận tràng tiêu tích. Có thể hỗ trợ điều trị viêm phế quản mạn, hen suyễn, cao huyết áp, mỡ máu cao. Có 2 món ăn gợi ý:
(1) Da sứa hầm củ mã thầy: Da sứa cũ 200g, củ mã thầy 300g. Da sứa trụng nước sôi nhiều lần để loại bỏ vị mặn, mã thầy gọt vỏ cắt đôi. Cả hai cho vào nồi đất, thêm nước vừa đủ, hầm 1 giờ là dùng được. Mỗi ngày 1 thang, chia sáng tối uống, có thể hóa đàm tiêu tích, chỉ khái bình suyễn, dùng cho hen suyễn.
(2) Da sứa – huyết heo tươi: Mỗi thứ 200g, thêm nước nấu chín, mỗi ngày 1 thang. Có tác dụng thanh nhiệt hóa đàm, chỉ khái bình suyễn, phù hợp với hen thể nhiệt.
Cách dùng thực phẩm như ếch và cá chép để hỗ trợ điều trị hen suyễn:
(1) Ếch:
Thịt ếch mềm, thơm, giá trị dinh dưỡng cao, mỗi 100g thịt chứa 14.8g protein, 7.6g carbohydrate, 110mg canxi, 159mg phospho, 4.1mg sắt, cùng nhiều vitamin B1, B12, A, niacin… Thịt ếch vị ngọt, tính hàn, không độc, có tác dụng bổ hư tổn, thanh nhiệt giải độc, lợi tiểu tiêu thũng, dùng trong trị hư nhiệt, hen suyễn, cổ trướng,…
Cách làm: Dùng 1 con ếch tươi, làm sạch, nhồi vào miệng 7 hạt tiêu trắng, khâu kín lại, đặt trong ly có nắp, thêm 100ml nước, hấp cách thủy 2 giờ (nếu nước trong nồi gần cạn thì thêm nước sôi). Lấy ra ăn nóng gồm cả tiêu, nước và thịt ếch. Mỗi 3–5 ngày ăn 1 lần, 5 lần là 1 liệu trình. Có tác dụng bổ hư tổn, trị hen thể hư. Có báo cáo dùng phương này chữa 17 ca hen suyễn, 12 ca khỏi, hiệu quả rõ rệt.
(2) Cá chép:
Cá chép vị ngon, dinh dưỡng phong phú, mỗi 100g thịt chứa 20g protein, 1.3g chất béo, 1.8g carb, 65mg canxi, 407mg phospho, 0.6mg sắt, cùng hơn 10 loại acid amin và vitamin B1, B2, A, C, niacin, enzyme protease… Cá chép vị ngọt, tính bình, lợi tiểu tiêu thũng, chỉ khái hạ khí, dùng trị xơ gan cổ trướng, ho suyễn, ho gà, băng lậu,…
Cách làm: Dùng 1 con cá chép, bọc giấy rồi bọc đất sét bên ngoài, đem nướng cho chín, bỏ xương tán thành bột, nấu cháo cùng nếp ăn mỗi ngày 1 thang. Có tác dụng bổ tỳ vị, ích phế khí, chỉ khái bình suyễn, thích hợp điều trị hen phế quản.
Cách dùng củ cải để hỗ trợ điều trị hen suyễn:
Củ cải vị cay ngọt, tính mát; khi chín có vị ngọt tính bình. Có công dụng thanh nhiệt sinh tân, hóa đàm chỉ khái bình suyễn, lương huyết chỉ huyết, lợi tiểu, giải độc. Khi chín còn có tác dụng kiện tỳ hòa vị, tiêu thực giáng khí. Dùng trong cảm phong hàn, ho nhiều đờm, chảy máu cam, ho ra máu, viêm họng, ăn không tiêu, tiểu tiện nóng rát do thấp nhiệt,… (các món ăn cụ thể sẽ được trình bày tiếp nếu bạn yêu cầu).
Các món ăn – bài thuốc từ củ cải hỗ trợ điều trị hen suyễn:
(1) Củ cải hầm phổi heo: Củ cải tươi 500–600g, phổi heo 1 cái. Củ cải rửa sạch cắt khúc, phổi heo rửa kỹ nhiều lần rồi cắt miếng, cho vào nồi hầm nhừ, nêm gia vị, dùng ăn. Có tác dụng bổ phế giáng nghịch, điều khí bình suyễn, thích hợp trị hen thể hư.
(2) Canh củ cải – trứng gà: Trước hoặc sau Đông chí, chọn 1 củ cải vỏ đỏ ruột trắng lớn, bổ đôi, khoét giữa tạo hốc hình quả trứng, đặt trứng gà tươi vào (đầu to hướng lên), ghép hai nửa lại, buộc chặt bằng dây (tránh làm vỡ trứng), đặt vào chậu, tưới nước, phơi nắng cho củ cải sống lại, mọc lá mới. Sau 81 ngày lấy ra, trứng đã chín vàng nhưng không hỏng, cắt củ cải thành lát, luộc chín cùng trứng (đã đánh đều lòng đỏ), không thêm muối, chia nhiều lần ăn. Có công dụng bổ hư tổn, lý khí huyết, hóa đàm chỉ khái bình suyễn.
(3) Nước củ cải – mật ong: Nước củ cải trắng 300ml, mật ong 30g, trộn đều dùng. Mỗi ngày 3 lần, mỗi lần pha 100ml với nước sôi để uống. Có công dụng nhuận phế bổ trung, nhuận tràng, hóa đàm chỉ khái bình suyễn.
(4) Nước củ cải – đường đỏ: 1 bát nước củ cải trắng và lượng vừa đủ đường đỏ, sắc uống. Có tác dụng ôn vị hóa đàm, chỉ khái bình suyễn.
Các món ăn – bài thuốc từ hạt đào (nhân quả óc chó) trị hen suyễn:
Hạt đào (nhân óc chó) giá trị dinh dưỡng cao, được mệnh danh là “quả trường thọ”, chứa 40–50% chất béo (chủ yếu là acid béo không bão hòa như linoleic acid), 15% protein, 10% carbohydrate, cùng với canxi, phospho, sắt, các vitamin A, B, E,… Ăn 500g nhân đào tương đương với 2500g trứng hoặc 2000g thịt bò về dinh dưỡng, dễ hấp thu, rất có lợi cho người bị hen suyễn. Vị ngọt, tính ôn, có tác dụng bổ thận trợ dương, bổ phế liễm phế, chỉ khái hóa đàm, nhuận tràng thông tiện. Có thể áp dụng các món sau:
(1) Nhân đào trộn đường đỏ: 8 quả hạt đào, lượng vừa đủ đường đỏ, nướng hạt đào cho chín, bỏ vỏ, đập dập, trộn với đường đỏ, mỗi ngày 1 liều, dùng vào buổi tối, pha với nước sôi uống nhiều lần. Bổ phế thận nạp khí, thông tiện bình suyễn, hiệu quả với cơn hen phát tác.
(2) Nhân đào hấp mật ong trắng: Nhân đào 50g, mật ong trắng 50g, nghiền nhân đào, trộn mật ong, hấp cách thủy đến chín, mỗi ngày dùng 1 liều, pha nước sôi uống. Bổ phế thận, nhuận tràng, bình suyễn, dùng trong hen phế quản.
(3) Cháo nhân đào – gạo tẻ: Nhân đào 30g, gạo tẻ 100g, nấu cháo ăn, mỗi ngày 1 lần, chia sáng và tối ăn ấm. Có thể dùng lâu dài. Công dụng ôn dương kiện tỳ, nạp khí quy thận, dùng trong hen thể tỳ thận dương hư.
(4) Nhân đào – lát gừng sống: 1–2 hạt đào và 1 lát gừng sống, nhai nuốt cùng nhau mỗi tối trước khi ngủ. Bổ phế thận, nạp khí, chỉ khái bình suyễn, khu phong hòa vị, hỗ trợ điều trị hen.
Các món ăn – bài thuốc từ địa long và hạnh nhân trị hen suyễn:
(1) Địa long – dầu mè – mật ong: Địa long 50g, dầu mè 500ml, mật ong 50g. Dầu mè đun sôi, cho địa long vào chiên giòn, lọc bỏ xác lấy dầu, khi còn nóng cho mật ong vào, đựng lọ kín. Mỗi lần dùng 10ml, ngày 2 lần. Ích phế bổ thận, bình suyễn nạp khí, nhuận tràng thông tiện. Dùng cho hen suyễn dị ứng.
(2) Bột địa long – nhau thai: Địa long 100 con, nhau thai 1 cái. Cả hai rửa sạch, sấy khô, tán bột mịn, trộn đều, cho vào viên nang rỗng (mỗi viên khoảng 0.25g), bảo quản trong chai. Mỗi ngày 3 lần, mỗi lần 1–3 viên, uống với nước ấm lúc đói, dùng 10 ngày là 1 liệu trình. Bổ khí huyết, dưỡng thân, thanh phế bình suyễn.
(3) Bột địa long: Địa long rửa sạch, phơi khô, tán bột, mỗi lần uống 3–6g, pha với rượu vàng. Hoặc dùng 9g bột, thêm nước vừa đủ sắc còn nửa, uống. Có tác dụng thanh phế bình suyễn.
(4) Thang tam nhân: Hạnh nhân 6g, nhân đào 2 hạt, nhân hạt dưa 60g, 3 cuống tỏi. Sắc uống, mỗi ngày 1 thang.
(5) Hoàn nhân đào – hạnh: Nhân đào và hạnh nhân mỗi thứ 120g, tán bột, luyện mật ong làm hoàn, mỗi hoàn 3g, mỗi lần 1 hoàn, ngày 2 lần, uống với nước gừng. Bổ thận ôn phế, trừ đàm chỉ khái bình suyễn, hiệu quả rõ.
(6) Canh hạnh nhân – mật ong: Hạnh nhân 9g, mật ong 30g, hạnh nhân bỏ vỏ, bỏ đầu nhọn, cùng mật ong cho vào nồi, thêm nước vừa đủ, hấp chín dùng. Nhuận phế bổ trung, định phế bình suyễn.
(7) Canh nhị nhân nước gừng: Hạnh nhân Nam 15g, nhân đào (nhân quả óc chó) 30g, nước gừng tươi vừa đủ. Nghiền nát hai loại nhân, trộn đều với nước gừng, thêm mật ong vừa đủ, đem hấp chín uống. Công dụng: ôn trung hóa đàm, bổ thận nạp khí. Thích hợp với hen suyễn do thận hư.
Cách dùng đông trùng hạ thảo và cáp giới trong thực dưỡng điều trị hen suyễn:
(1) Đông trùng hạ thảo hầm đại bàng: Đông trùng hạ thảo 5g, xuyên bối mẫu 3g, 1 con đại bàng (hoặc thay bằng gà trống/cút nếu khó tìm). Làm sạch lông, bỏ nội tạng, nghiền nhỏ xuyên bối, cùng đông trùng nhét vào bụng chim, khâu lại, thêm nước vừa đủ, hầm nhừ, chia 2 lần ăn. Dùng liên tục 5–7 con là 1 liệu trình. Công dụng: bổ thận tráng dương, hóa đàm chỉ khái, bình suyễn. Dùng cho hen phế quản.
(2) Đông trùng hạ thảo hầm nhau thai: Đông trùng hạ thảo 15g, nhau thai tươi nửa cái. Nhau thai rửa sạch, băm nhuyễn, cùng đông trùng cho vào bát, đem hấp cách thủy, nêm nếm rồi ăn. Thường 1–2 lần dùng đã thấy hiệu quả. Công dụng: bổ phế ích thận, chỉ khái bình suyễn, tráng dương bổ tinh. Dùng cho hen phế quản, viêm phế quản mạn tính ở người cao tuổi, hư tổn sau bệnh, thiếu máu.
**(3) Cáp giới 1 con, nhau thai 1 cái, ngư tinh thảo 75g, hạnh nhân Bắc 10 hạt, thịt nạc heo lượng vừa đủ. Tất cả rửa sạch, nấu canh nhỏ lửa trên 3 giờ, nêm muối vừa ăn, chia 2 lần dùng. Mỗi tuần nấu 3 lần hoặc dùng trong 10 ngày. Công dụng: bổ thận nạp khí, hóa đàm định suyễn. Dùng cho hen phế quản.
*(4) Cáp giới 1 con, hồng sâm Đông Bắc lượng bằng nhau. Cáp giới thoa mật và rượu, nướng giòn, tán bột; hồng sâm cũng tán bột, trộn đều, luyện mật thành hoàn cỡ hạt đậu đỏ, mỗi lần 3g, ngày 2 lần. Công dụng: bổ phế ích thận, nạp khí định suyễn. Thích hợp với hen thể hư.
(5) Bánh nếp cáp giới: Bột cáp giới 25g, gạo nếp 200g. Gạo nếp vo sạch, sấy khô, nghiền bột, trộn đều với bột cáp giới, thêm nước, ít đường trắng, nhào thành bột, vo viên, hấp chín ăn. Mỗi ngày 1 liều. Công dụng: bổ phế kiện tỳ, chỉ suyễn. Dùng cho hen phế quản.
Lương y Trường Xuân dịch